XINH ĐẸP CẦU TRONG TRANH

Từ ngàn xưa, những cây cầu đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhân loại. Làm một nơi giao thông, gặp gỡ cũng là chốn tụ tập đông người của nhiều sinh hoạt văn hóa- xã hội, tất cả là nhờ sự tiện dụng và vẻ đẹp tuyệt vời của chúng. Chính vì thế, các nghệ sĩ không tiếc lời ca ngợi cầu đường, và trong mỹ thuật luôn có rất nhiều tranh vẽ công trình này với đầy đủ sự hoành tráng mà duyên dáng.

Một trong những bức tranh đầu tiên vẽ cầu đẹp như thế, cũng là tranh thời kỳ trước khi có chủ nghĩa ấn tượng, mà rất ấn tượng là tác phẩm Đức Mẹ Madonna của Ngài chưởng quan Rolin hay Cuộc tiếp kiến của quan chưởng ấn Rolin với Đức Mẹ Đồng trinh và Chúa hài đồng, sáng tác năm 1435 trên chất liệu sơn dầu bởi danh họa người Hà Lan Jan van Eyck. Tranh đặc tả Đức Mẹ Mary trong trang phục đỏ thắm lộng lẫy, được thiên thần bay đến trao cho vương miện và Chúa Jesus bé bỏng đang ngồi trên gối mẹ, một tay cầm quả địa cầu kiêm thánh giá, một tay làm phép ban phước cho Nicolas Rolin, nhân vật quyền lực nhất, chỉ sau công tước xứ Burgundy Pháp, và ở tư thế ngồi quỳ đọc kinh trong một lâu đài mỹ lệ, kiểu La Mã tại Atun- quê hương ông. Mặc dù nhỏ xíu vì ở tít đằng xa, khi được nhìn từ vòm cổng cung điện ra, song một cây cầu trong tranh vẫn hiện lên sừng sững, mềm mại và xinh đẹp. Đó là cầu nhịp cuốn bằng đá trắng muốt, xin được gọi là Cầu Atun, có từ sáu đến tám nhịp, chứa một dòng người tấp nập, bắc qua đôi bờ sông dài, với các vườn tược, nhà cửa trù mật.

Về khoảng cách, nó nằm ở chính giữa tranh, như thể chính giữa xứ Burgundy miền trung Pháp, và về ý nghĩa tôn giáo, do hai bờ xanh tươi, thơ mộng, đồi núi trập trùng như là giữa thiên đàng, nơi  khu vườn sum suê của Chúa. Cây cầu này cũng nằm trên một trục, xuyên qua thành, sân thượng, dinh thự để vào trong nơi tiếp kiến của tể tướng lập với  những viên gạch một đường biên phân chia giữa viên quan này với Đức Mẹ và Chúa hài nhi. Như muốn nói đến một ranh giới mỏng manh giữa trần gian và thiên đàng, mà những người yêu đạo, trung tín sẽ bước qua một cách dễ dàng. Không dừng lại ở đây, điểm cao nhất của ngón tay Chúa Ki tô khi làm phép lại trùng với điểm khởi đầu của cây cầu, lập nên một vòng cung- cầu nối tuyệt đẹp giữa Chúa với nhân loại. Điều này cũng gợi nhớ đến việc Chúa Trời tạo ra thế giới trong Sáng Thế Ký, đem lại mọi sự sống. Tác phẩm trên có thể nói rất giàu biểu tượng, và về một Thánh địa New Jerusalem trong Kinh Thánh- nơi cuộc sống êm ái- chan hòa, nhộn nhịp từng ngày. Tuy ở trong tranh chỉ vẽ rõ sáu người, song nếu phóng to cây cầu lên, sẽ thấy hàng trăm người khác đang kìn kịt qua lại trên đó. Cùng với khách bộ hành đông đúc, còn thấy nhiều người đi thuyền dưới chân cầu trên dòng sông trong vắt. Cảnh đẹp ấy được chiêm ngưỡng bởi hai dân thường, và cũng sung sướng không kém gì quan lớn, do được ngắm cảnh sơn thủy hữu tình của Đấng Tạo Hóa.

Bức tranh Horatius Cocles trấn giữ đầu cầu, ra đời năm 1642/43 của danh họa người Pháp Charles Le Brun, lại kể về một anh hùng La Mã đã sả thân, một mình chống chọi cả một đoàn quân để bảo vệ thành Rome, tức Italy ngày nay cuối thế kỷ 6 trước Công Nguyên. Nhằm ngăn cản quân thù là quân đội của vua Lars Porsena xứ Clusium, muốn qua cầu Pons Sublicius xâm chiếm Rome, một sĩ quan của Cộng hòa La Mã bấy giờ là anh lính Publius Horatius Cocles đã dẫn một tiểu đội đứng ngay trên cây cầu này, cửa ngõ của kinh đô, với quyết tâm thà hy sinh tính mạng, chứ không được để địch lọt vô thành. Với tấm khiên và thanh kiếm trên tay, anh đã liều mình chặn giữ đầu cầu, đánh cho chúng tơi tả, kẻ mất- người ngã cho dù thế giặc rất mạnh, người ngựa hừng hực. Đồng đội của anh tuy không chiến đấu, song có một nhiệm vụ khác là bẩy đổ cây cầu gỗ phía sau anh, đối diện thành đô, cũng là cái họ đang đứng ở trên, chứa đầy mạo hiểm khi mọi thứ sụp xuống. Cho tới giây phút cuối cùng, cầu Pons Sublicius vẫn hết sức diễm lệ và càng đẹp thêm trong không khí khẩn trương, oai hùng. Tranh cho thấy, kiến trúc của nó rất vững chắc, gồm có hai phần là thân cầu bằng đá ở hai phía và một đoạn đường bằng gỗ chính giữa. Những tấm ván có thể đã lát dài dọc cây cầu, gối lên hai thành đá và đang được nạy ra bằng xà beng cho tới giờ chỉ còn đôi, ba tấm; trụ cầu bằng gỗ cũng khá to, được gia cố bởi kỹ thuật ghép mộng nên phải dùng rất nhiều lực để tra và lẫy bỏ. Từng đó để có một cây cầu chịu được dòng nước rất dữ, cuồn cuộn của Tiber, dòng sông nặn ra hình hài xứ sở. Có vẻ Horatius đã phải chống đỡ rất lâu trước quân địch, bằng chứng là từ đầu cầu thuộc phần thân đá đến chỗ anh đứng với những mảnh ván còn lại cách nhau một quãng khá xa; chỗ nào cũng thấy người nằm la liệt, và phản ánh anh đang cố gắng từng giây để trấn thủ từng đoạn đường, vì chỉ còn một vài bước nữa với quân số áp đảo, giặc sẽ tràn vào thành. Từ trên không, nữ thần chiến tranh Minerva cùng tiên đồng vội bay xuống giúp anh; bà nhẹ nhàng đặt trên đầu anh một vòng nguyệt quế có ý nghĩa để tăng sức mạnh, lòng dũng cảm và là một biểu tượng cho sự chiến thắng vinh quang. Chú bé tiên lại soi sáng cho anh bằng một ngọn đuốc lớn, giúp người lính có được sự minh mẫn, tinh mắt. Theo dõi từ đầu chí cuối, thủy thần Tiber vẫn thản nhiên cho vại nước chảy ra lênh láng, làm trôi đi mọi thứ, gồm cả cây cầu trong tích tắc nữa. Tuy cầu không còn, song Rome đã được an toàn, và từ thắng lợi này người La Mã đã xây dựng thêm nhiều “pons” mới.

Ngoài khắc họa con người, tranh xưa cũng ghi lại nhiều phong cảnh, địa lý bên cầu, như sáng tác Phiên chợ trên băng nơi dòng sông Thames và cầu London cổ,  xuất hiện năm 1685 của một họa sĩ khuyết danh tại Anh. Ở đó, cây cầu tiền phong của London cũng hiện ra từ xa, song mang trên mình những tòa tháp, tu viện đồ sộ, cứ như một hoàng cung trên sóng. Do mùa đông ở Anh nhiều sương, có vẻ nó cũng được tả trong sương mờ ảo xa xôi và nhường cho trước mặt một không gian bao la trên nước đã đóng thành băng và làm một khu chợ trên sông, có xe ngựa, cút kít, người đi bộ đông vui cùng những gian hàng tít tắp. Trên lớp băng dày tới 30 centimét, trẻ già lớn bé đua nhau đi trượt băng, ngay cả những con thuyền cũng được lắp bánh xe nhằm đẩy cho dễ. Có thể nói cây cầu là một tổ ấm, một chốn vương giả, còn mặt nước của nó là điểm sinh hoạt, vui chơi, hội hè thường xuyên của dân gian London. Kể từ lúc khánh thành năm 1209 đến khi đó, nó đã 476 tuổi và là trung tâm của đời sống Anh thêm 146 năm nữa, thì được thay thế bởi công trình thứ hai.

Các cây cầu trung cổ, ví dụ như cầu London Anh thường có cửa hàng đôi bên để du khách tiện đường mua sắm tùy ý. Thế nhưng, đến nay còn rất ít kiểu cầu này tồn tại, ngoại trừ một công trình trường thọ, được phản ánh qua rất nhiều họa phẩm, ấy là cầu Rialto của Venice và tiêu biểu qua bức tranh Đua thuyền bên cầu Rialto năm 1770-9 của danh họa người Italy Francesco Guardi. Tranh tái hiện một lễ hội vô cùng náo nhiệt – hội đua thuyền Venice Regatta Storica vào tháng chín hằng năm, với hàng trăm con thuyền gondolar rực rỡ, mang theo các biểu tượng của Cộng hòa Maritime trên Địa Trung Hải. Hội đã có từ thế kỷ 16 và ở dưới chân một công trình đẹp nhất Venice, cũng lâu đời nhất, nếu tính từ buổi sơ khai là một cầu gỗ năm 1173 và cầu đá từ năm 1524. Dài 48 mét, cao 7,3 mét, rộng 23 mét, cầu chỉ có một nhịp, song có tới 13 vòm cung trên cao và ở mỗi bên, trong đó có một vòm lớn chính tâm, cũng là những quầy hàng đa dạng. Bắt đầu từ đầu thế kỷ 15, hai bên thành cầu đã có những cửa hàng buôn bán từ vàng bạc tới lụa là, đồ gốm… Qua tranh của Francesco Guardi, nó có một màu vàng ấm áp, nối liền một dải cùng những dinh thự cũng có sắc vàng hấp dẫn, đối lập với những chiếc thuyền đen và bầu trời xanh xám. Dù chứa nhiều gam lạnh nhưng nhờ màu vàng này, tranh vẫn ngời sáng- ấm cúng- đúng với không khí mùa thu của một vùng sông nước như Venice. Trên thực tế, cầu Rialto bằng đá trắng muốt và trông như một nhẫn ngọc đeo trên mặt kênh.

Vào năm 1777, danh họa người Thụy Sĩ Caspar Wolf cũng cống hiến cho đời một họa phẩm đặc sắc là Cây cầu của Quỷ trên Đèo Saint Gothard. Một con đèo tối quan trọng nối giữa miền nam và bắc Thụy Sĩ, song tới năm 1220 mới có cầu, nghe chừng rất lỏng lẻo vì bằng gỗ và tới thế kỷ 17 mới vững chãi nhờ bằng đá mà từ đó giúp vận chuyển, qua lại trên dãy Alps được thuận tiện. Do địa hình hiểm trở, như thấy trong tranh là sự so le của các vách núi, đá rơi đá vãi lởm chởm, rồi còn có sông băng, thác nước lênh láng, nên khi xây cầu rất vất vả, mãi mới xong, và phải cần đến sự trợ giúp của “quỷ”. Trong tranh, chỗ nào cũng thấy một màu xám lạnh, cũng có màu đỏ màu nâu nhưng là màu của đá khô khan, và chỉ có một số đoạn có màu xanh của cây song ở tít trên cao, và tuôn giữa tranh là một dòng thác bạc, dữ dội chảy từ độ cao kinh khủng xuống. Bản thân cây cầu và đường đi cũng rất nhỏ bé, trơn dốc cho thấy đây là một công trình vô cùng cheo leo, mạo hiểm song vì điều kiện địa ký như vậy, nó cũng cực kỳ cần thiết trong đời sống.

Cũng chênh vênh tương tự, ở bên kia Đại Tây Dương năm 1867 có bức tranh Pichincha, mà tác giả là danh họa người Mỹ Frederic Edwin Church. Ông cũng tả một cây cầu lửng lơ, song lắc lẻo vì làm từ tre củi, dây rừng ở Ecuador. Do về xứ nhiệt đới, trong tranh toàn thấy màu xanh, đặc biệt có hai cây dừa cao vút ở trên đỉnh núi ngay sát công trình làm người xem liên tưởng tới sự chòng chành đánh võng. Chưa hết, ở giữa cầu còn có hình ảnh một phụ nữ mặc áo đỏ cưỡi con la đang đủng đỉnh đi qua, và ở đầu cầu là một người nữa vừa mới bước sang còn thập thò đầu vách đá. Tuy độ cao của cầu không nhiều lắm, song vẫn đủ thấy tại đó một vực sâu thăm thẳm bởi nhiều ngọn núi lô xô phía sau, trong đó có ngọn hỏa sơn Pichincha tuy nguội lạnh, song thi thoảng vẫn phun ngùn ngụt. Và điều ấy càng củng cố thêm cho ý nghĩa của công trình này đối với địa phương khi quanh đây nhiều đồi núi, rừng rậm đến thế, và vì ít có điều kiện xây cầu bằng đá, xi măng, sắt thép nên từ xưa dân gian vẫn dùng cầu treo như một phương tiện thiết yếu. Tranh do vậy không nói đến sự nguy hiểm hay sự lạnh lẽo của một công trình nằm giữa thiên nhiên hoang vắng, mà là niềm vui, hy vọng khi từng ngày được đi trên những cây cầu yên bình, và họa sĩ đã chọn thời điểm nắng sớm, lúc mặt trời ló lên cao để vạn vật rạng rỡ, tươi vui.

Đến thời kỳ của chủ nghĩa ấn tượng, nhờ phong cách sáng tác tự do, phóng thoáng, ngẫu hứng, những cây cầu ngày càng xuất hiện trong mỹ thuật, từ những cầu đường cho tới cầu vườn đều được thể hiện tinh tế. Và một bậc thầy về tranh cầu lúc này là danh họa người Pháp Claude Monet, do ông có hàng loạt tranh cầu. Sau khi vẽ nhiều cầu như cầu Waterloo, cầu Westminter và cảnh đẹp tự nhiên, muốn cho mình một góc trời riêng, với vườn tược nở đầy hoa và những cây cầu xinh xắn làm một lối đi nhàn tản ngắm cảnh, ông đã thiết kế một khu vườn ở Giverny và từ năm 1897-99 sáng tác liên tục 18 họa phẩm về cầu gỗ theo kiểu Nhật Bản. Tranh của ông có rất nhiều màu sắc do phản ánh nhiều hoa từ hoa súng, hoa sen tới hoa diên vĩ, hoa hồng, thược dược, hướng dương… song mỗi cây cầu thường có màu xanh lam, xanh lá nhạt và bắc qua một ao hồ sặc sỡ, phản chiếu cây cỏ thướt tha. Có tới 12 bức tranh hoàn chỉnh, nhưng trong tranh nào cũng hiện lên một cây cầu giản dị, thanh mảnh, một nhịp và được tạo bởi ba đường cong cách đều với tám hàng chấn song. Có lẽ sự mộc mạc ấy là để thể hiện cho tính thiền, sự an nhiên, hòa hảo theo triết lý Nhật Bản, mà nhờ bình thản bao quát được toàn bộ thế giới phù hoa. Có cây cầu ông vẽ toàn diện, song cũng có cái chỉ đưa một khúc như một lát cắt về khu vườn mùa xuân.

Trong quá khứ cũng có nhiều danh họa vẽ được nhiều cầu, như họa sĩ Canaletto của Italy với cầu ở London, Venice bao gồm cầu Rialto vào năm 1697; Utagawa Hiroshige (Nhật Bản) với cầu tại nhiều ga trên quốc lộ Tokaido như cầu Sanjo trên sông Kamo 1833; Katsushika Hokusai (Nhật Bản) với cầu trong loạt cảnh danh kiều và đảo Lu-chu trong đó có cầu Mannen ở Fukagawa 1830; J. M. W. Turner (Anh) với cầu ở Scotland, Anh và Venice như cầu than thở 1840; Alfred Sisley (Anh) với cầu tại Pháp như cầu Villeneuve la Garenne 1872 và cầu Sevres 1877; Vicent Van Goh (Hà Lan) với cầu ở Pháp như cầu Grande Jatte trên sông Seine 1887 và cầu Langlois tại Arles 1888; Camille Pissaro (Pháp) với cầu ở Pháp như cầu Saint-Sever Rouen 1896 và Ponte Neuf Paris 1901…

Lại có nhiều cây cầu kỳ diệu được vẽ bởi nhiều tác giả như cầu Ponte Vecchio- Florence (Italy) bởi các họa sĩ Canaletto (Italy), Albert Goodwill (Anh), Raj Chaudhuri (Ấn Độ); cầu Tháp- London (Anh) bởi Oskar Kokoschka (Áo), William Lionel Wyllie (Anh), Xavier Pick (Irag); cầu Brooklyn- New York (Mỹ) bởi Ernest Lawson (Canada), Anne Gifford (Mỹ), Silvia Vassileva (Bulgaria); cầu Cổng vàng- San Francisco (Mỹ) bởi Eugene Garin (Ukraine), Joe Cartwright (Australia), Anastasia Mak (Mỹ)…

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
error: Content is protected !!