TUYỆT ĐẸP CẦU WATERLOO, BIỂU TƯỢNG CỦA LONDON

Hiếm có một cây nào lại gắn liền với ý nghĩa vinh quang, thắng lợi và tốt lành như cây cầu Waterloo tại thủ đô London- Anh. Do được xây dựng để kỷ niệm chiến thắng của Liên minh thứ bảy, gồm quân đội Anh, Hà Lan và Phổ… trước quân đội Pháp, hoàng đế Napoleon Bonarpatre trong thế kỷ 19 và được tái thiết trong thế kỷ 20 giữa cuộc đại chiến thế giới lần II trong bao bom đạn, mà vẫn xuất hiện tuyệt vời, trang nhã trên dòng sông Thames thơ mộng. Trong Đại Thế Chiến này, chỉ có nó là công trình duy nhất bị nhắm bắn, song nhờ sự bảo vệ kiên cường cũng như tiếp tục xây dựng đã thành hình vào năm 1945. Điều thú vị nữa là công lớn ấy thuộc về những nữ công nhân- thợ xây ở đây, do nam giới đều ra trận hết, nên việc xây cầu giao trọn cho 350 phụ nữ. Trong suốt thế kỷ 19, trước vẻ đẹp tráng lệ, dày dặn của cây cầu cũ Waterloo, đã có rất nhiều họa sĩ- văn nhân đến bên sáng tác, cho ra những tác phẩm tiêu biểu, để đời của nền mỹ thuật đương đại và từ khi cây cầu mới Waterloo xuất hiện trước dáng dấp hiện đại, mỏng manh của nó, giới sân khấu, điện ảnh, báo chí lại tập trung không ngớt xung quanh để đóng phim, chụp ảnh, lấy tin bài. Nhờ vị trí đắc địa ở một khúc quanh của sông, ở đâu trên cầu cũng thấy phong cảnh trữ tình từ quận Westminter tới quận South Bank, tòa thị sảnh London, bến tàu Canary… Tất cả hiện lên một cách ngoạn mục, sinh động và thanh bình.

Cầu Waterloo khánh thành, tranh của Rudolph Ackermann năm 1817

Do nhu cầu đi lại ngày càng tăng đầu thế kỷ 19, vào năm 1810 chính quyền thành phố London đã quyết định cho xây một cây cầu tại địa điểm hiện nay, đặt tên là cầu Sức sống Strand. Ngày khởi công của nó thu hút rất đông người xem, thậm chí Nga Hoàng Alexander I cũng đến xem, ghé qua công trường vào năm 1814 khi ông công du London. Được thiết kế bởi kiến trúc sư đại tài John Rennie, sau bảy năm kiến thiết, cuối cùng nó đã hoàn thiện vào tháng 6 năm 1817 và được khánh thành bởi hoàng tử xứ Wales, về sau là vua George IV và công tước xứ Wellington nhân dịp kỷ niệm hai năm thắng trận Waterloo và nhanh chóng trở thành là Waterloo Kiều. Chỉ sau lễ khánh thành ba ngày, họa sĩ người Đức nổi tiếng Rudolph Ackermann đã có một bức tranh khắc a xít, tô màu sặc sỡ đặc tả không khí rất sôi động, nhộn nhịp và thiêng liêng của ngày cầu Waterloo ra đời, và hiện giờ bức tranh này đang nằm trong bộ sưu tập tranh địa lý của vua George III tại Anh. Họa phẩm cho thấy hai sự kiện lớn, cùng diễn ra đồng thời. Đầu tiên là chuyến du thuyền của hoàng tử xứ Wales cùng đoàn tùy tùng trên sông Thames và dừng chân trước cầu Waterloo. Cùng thuyền hoàng gia hàng dãy ở bên trái bức tranh, còn thấy thuyền bè của dân gian xuôi ngược tấp nập bên phải. Trong trích đoạn tranh, hoàng tử được đón đưa bởi công tước xứ Wellington, công tước xứ York và cùng được thủy quân hộ tống trở về cung điện Whitehall sau đó. Qua đây, người xem như được chứng kiến tận mắt một đám rước long trọng với việc hoàng tử được rước từ Whitehall bằng thuyền lộng lẫy và cưỡi ngựa uy nghi đi dạo thong dong trên cầu. Tranh cũng đưa ta tới với lễ chào mừng chiến thắng Waterloo năm 1817 khi từ dưới chân cầu bốc lên những làn khói nghi ngút, gợi nhớ đến những quả đạn thần công đang bốc lửa trên chiến trường, trong khi binh lính diễu hành trên cầu lại mường tượng đến cảnh binh lính nô nức khải hoàn trở về. Có thể nói cầu Waterloo và dòng sông nó bắc qua đã được biến thành một địa điểm để diễn tả một vở kịch gây cấn, có tính chất quan trọng nhất, ảnh hưởng đến vận mệnh thế giới, cùng sự bố giáp quân sự chặt chẽ và những màn trình diễn lôi cuốn, đặc sắc từ hoàng gia.

Đại thể cầu Waterloo khi đó là một cây cầu bằng đá granite duyên dáng, chín nhịp (chín vòm cuốn) hình e líp, với mỗi nhịp dài 36,6 mét (m) và cách quãng bởi các cột đôi Doric (phong cách La Mã). Tổng cộng, nó dài 748,6 m, rộng 12,8 m, bên trên trang trí những cột đèn rất đẹp mắt. Cũng vì vẻ đẹp hoành tráng ấy, nhà điêu khắc tân cổ điển người Italy Canova đã gọi nó là cây cầu cao quý nhất thế giới và bảo thật đáng giá khi từ Italy đến London chỉ để ngắm công trình của Rennie. Họa sĩ lãng mạn người Anh John Constable cũng xem nó là một cảnh đẹp kỳ diệu và đã vẽ một bức tranh đại hiện trưng bày tại galery Tate. Đặc biệt danh họa ấn tượng người Pháp Claude Monet là người đã dành nhiều thời gian nhất để khắc họa cây cầu với 41 bức vẽ sơn dầu cho thấy ánh nắng lung linh, soi tỏ nhiệm màu trên cầu Waterloo. Vào năm 1868, người ta còn tìm thấy một chiếc mũ helmet đồ sắt lạ mắt có tuổi đời từ 2.050 năm tới 2.150 năm ở dưới chân cầu và là mũ sắt có sừng thời đồ sắt duy nhất được phát hiện tại châu Âu và được đặt tên theo cầu Waterloo, và họ còn tin rằng sẽ tìm thấy được nhiều cổ vật nữa dưới lòng sông chưa được khai quật.

Cầu Waterloo (cũ) xa xa trên bến thuyền, tranh của Charles Deane năm 1821
Cầu Waterloo rực rỡ trong hoàng hôn, tranh của Andre Georges Barbier năm 1920
Cầu Waterloo bừng sáng, tranh của Andre Derain năm 1906
Cầu Waterloo với con thuyền nhỏ, tranh của Claude-Monet năm 1899-1901
Cầu Waterloo lúc chiêu buông, tranh của Claude Monet năm 1903
Cầu Waterloo trong màu lam, tranh của Claude Monet năm 1909
Hoàng hôn trên Cầu Waterloo, tranh của Emil Claus năm 1916
Một ngày trời nắng trên Cầu Waterloo, tranh của Emil Claus năm 1916
Mưa bất chợt trên Cầu Waterloo, tranh của Emil Claus năm 1916
Hoàng hôn trên Cầu Waterloo, tranh của Lee Campbell
Buổi sáng bên Cầu Waterloo, tranh của Hebert Menzies Marshall
Nhà thờ St Paul với Câu Waterloo, tranh của Alan Streets

Tồn tại suốt hơn 100 năm lịch sử, song vì người, ngựa, xe cộ chen chúc mỗi ngày, cầu Waterloo đã xuống cấp để đến nỗi vào năm 1939, chính quyền đã phải dỡ bỏ và cho xây mới một công trình khác tại chỗ. Trước hết, hàng trăm nghìn tấn đá granite từ cây cầu cũ đã được tháo xuống và mang đi để xây dựng nhiều cây cầu và nhà cửa khác. Ví dụ như xây cây cầu Commonwealth Avenue tại Canberra, đài tưởng niệm chú chó Paddy ở Wellington, ngôi nhà của nhà văn Dornford Yates ở Umtali…

Cây  cầu mới được thiết kế bởi kiến trúc sư Giles Gilbert Scott, và vào ngày 4 tháng 5 năm 1939, được chính trị gia đảng Lao động, ngài Francis Campell Ross Douglas đặt viên móng đầu tiên. Buổi lễ gồm cả việc đặt những viên đá vốn của cây cầu trước lẫn những đồng tiền xu, tem thư và báo chí xuống móng cầu nhằm mong muốn sự an lành, may mắn, tốt đẹp, trong đó có sự nhanh lẹ, giàu có, hạnh phúc) sẽ đến với thủ đô London. Khi cầu Waterloo mới ra đời, nó đã trở thành cây cầu bê tông, cốt thép và cầu rầm hộp tiền phong trên sông Thames, song vẫn có một lớp vỏ đá ốp bên ngoài và là đá Portland trắng xám nên rất dễ tự rửa sạch sẽ khi mưa để lúc nào cũng sáng bóng. Tất thảy công trình dài 378,7 m, rộng 24,4 m và có năm sải mà sải dài nhất đến 77 m. So với cây cầu cũ, nó rộng rãi hơn nhưng lại mảnh khảnh hơn và có trọng lượng chỉ bằng ba phần tư cầu xưa, do đã rút bớt số nhịp từ chín xuống năm, số trụ từ tám xuống bốn và chứa bốn làn đường dành cho xe máy và người đi bộ. Trông nó nhẹ nhàng, thanh giản như vậy song công trình rất khó làm, tốn rất nhiều thời gian. Nhằm đảm bảo đi lại trên sông do lưu lượng xe cộ ngày càng nhiều của một thành phố đông đúc, vào năm 1942 chính quyền đã cho tạm mở hai làn đường xuôi ngược, trong khi vẫn tiếp tục xây dựng và khánh thành chính thức vào năm 1945 sau khi chiến tranh chấm dứt và lúc đó, thành phố tổ chức một cuộc thi chạy trên cầu xem ai về trước và người đoạt giải là một cậu bé 16 tuổi đang còn đi học, tên là Leonard Mitchell, cho thấy tuổi trẻ luôn chiến thắng. Sở dĩ lâu xây cầu phải lâu như vậy vì đang khởi công thì diễn ra Đại Thế Chiến II, bom đạn suốt ngày dội xuống nơi này, trong khi “tránh né” nơi khác. Song hơn cả là vì thiếu thợ xây trầm trọng. Vốn có 500 nam giới là công nhân đảm trách việc xây cầu Tân Waterloo, song tới năm 1941 thì chỉ còn 50 người vì ai nấy đều ra trận, và để bù lại số lượng, người ta đã phải cần tới công nhân nữ, với ít nhất 350 chị làm việc cả ngày quần quật, không nghỉ gồm từ bốc vác đến rèn rũa, gò, hàn. Tổng cộng chỉ tính hàn các mối ghép sắt thép với nhau, họ đã phải thực hiện gần 1,5 triệu mối hàn. Ngoài ra, họ còn phải bê những tấm gỗ cốt pha và đá tảng rất lớn để chống đỡ công trình. Có thể nói có tới 65% thợ xây ở đây là nữ, do đó cầu Waterloo mới còn được gọi là cầu của những quý bà. Trong chiến tranh thế giới II, tại Anh nói riêng và châu Âu nói chung, phụ nữ cũng phải làm việc nặng nhọc, tham gia vào các ngành công nghiệp sản xuất. Và riêng tại Anh đã có hơn bảy triệu phụ nữ làm trong lĩnh vực này trong khi dân số cả nước chỉ hơn 47 triệu người. Những nữ thợ xây vừa dựng cầu vừa cầm súng để bảo vệ cầu, thế nhưng họ đã không được nhắc tới khi hòa bình.

Vào tháng 12 năm 1945, trong lễ khánh thành tân kiều trên sông Thames, phó thủ tướng Herbert Morrison đã đọc bài phát biểu, trong đó ca ngợi những chàng trai xây cầu là những con người may mắn vì tên tuổi của họ có thể bị lãng quên, song tác phẩm thì còn mãi và là niềm tự hào cũng như được dùng bởi nhiều thế hệ sau. Nhờ hàng trăm công nhân đã làm việc với sắt thép, gỗ đá bê tông mà cây cầu đã thành hình và là một tượng đài minh chứng cho kỹ thuật và tài năng của họ… song kỳ thực thì chỉ có những nữ thợ xây mới nên nhận được những lời chúc mừng này. Kỳ thực, cầu Waterloo là sản phẩm có sự cộng tác tuyệt hảo của nhiều nhà thiết kế, xây dựng, cố vấn kiến trúc. Trước khi làm, đầu tiên, người ta đã phải đảm bảo rằng bản vẽ của ngài Scott sẽ thực hiện nổi về mặt cấu trúc vì khác với cây cầu cũ, nó rất mảnh dẻ, dài thòng, không có nhiều vòm cao lớn để giúp phân tán trọng tải…, rồi phải lạc quan trước những khó khăn vất vả do cuộc chiến tranh mang tới vì trong rất nhiều cây cầu ở trên sông Thames, không hiểu sao chỉ có nó luôn bị oanh tạc, mà mỗi lần gây nên những đợt rối loạn giao thông, khiến cả khu vực Westminter phải đóng cửa hàng giờ.

Hôm nay, cầu Waterloo (mới) vẫn là một công trình đẹp nhất, là biểu tượng của thủ đô London. Ban ngày, cây cầu xuất hiện với màu trắng xám óng ả, song ban đêm đều chiếu đèn led rực rỡ, xanh- đỏ, tím, vàng long lanh, nhấp nháy. Mỗi năm, có khoảng 500 nghìn người ghé thăm cây cầu, đi xe buýt, dạo bách bộ ở trên cũng như dưới gầm cầu này vì nó là một nơi ngắm cảnh thú vị nhất khi có thể phóng tầm mắt ra xa, bao quát 360 độ phố phường, cũng như có các tác phẩm trang trí độc đáo, đặc biệt ở chỗ đầu cầu phía bắc có Cây kim của nữ hoàng Cleopartre, một kim tự tháp obelisk Ai Cập bằng đá granite đỏ đã xuất hiện từ hơn 3.500 năm trước và được đưa từ Helopolis về London năm 1878, và ở đầu cầu phía nam là tượng đài nhạc sĩ Frederic Chopin của nghệ nhân Bronislaw Kubica.

Như đã nói, cầu Waterloo luôn trở thành nơi tụ hội, diễn ra các hoạt động văn hóa văn nghệ. Tại đây, vào năm 1930, Robert E. Sherwood đã viết nên vở kịch Waterloo Kiều sau được dựng thành ba bộ phim vào năm 1931, 1940 và 1956, trong đó đều có cảnh thơ mộng- trữ tình và nhất là trong bộ phim 1940 là cảnh tình tứ lãng mạn của đôi nam nữ yêu nhau qua sự thủ vai kiệt xuất của minh tinh Vivian Leigh và Robert Taylor. Đây cũng là bối cảnh cho bài thơ Sau bữa trưa của Wendy Cape, sau được chuyển thành một nhạc kịch bởi Jools Holland & Louise Marshall với cảnh chia tay, rơi lệ ướt áo. Và năm 1967 là ca khúc Hoàng hôn Waterloo của ban nhạc Anh Kinks với những ca từ gợi cảm như mỗi khi ngắm nhìn hoàng hôn trên cầu Waterloo, tôi cứ ngỡ mình ở thiên đàng.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
error: Content is protected !!