Tự bao giờ cùng với ruộng đồng, vườn tược đã là một phần cố hữu trong khung cảnh thiên nhiên làng quê Việt. Mảnh vườn vừa là chỗ để nông dân canh tác cải thiện kinh tế, vừa là rào chắn bảo an, làm đẹp nhà cửa – thôn xóm tạo nên những không gian xanh, mát, trong lành.
Vườn quê thường bắt đầu từ khoảnh sân gạch phía trước, sau hoặc hai bên hông nhà dân. Ở góc cận sân thường có một cái giếng đào hoặc bể chứa xung quanh bày chum, vại, xô, chậu và ở góc xa có ao, hồ nuôi thả cá. Dọc ngang vườn là những đoạn đường đất vòng vèo, nhấp nhổm. Thỉnh thoảng ta lại bắt gặp một vài con gà, lợn, chó, mèo lăng xăng sục sạo và đôi khi là lũ trẻ nô đùa hoặc người lớn tắm rửa, chuyện trò, nghỉ ngơi dưới tán lá râm mát.
Với đức tính cần kiệm, tự cung tự cấp, dân quê luôn tận dụng từng tấc đất để trồng trọt. Thành thử trong vườn thấy đủ thứ cây. Có loại cây bé lúp xúp vừa tầm hái phục vụ nhu cầu lấy lá, rau, quả hàng ngày như cà, đậu, ớt, mồng tơi, rau đay, tía tô, gừng, nghệ, xương sông,… Lại có loại cây tán rộng cao vượt nóc nhà cho hoa, quả theo mùa như trứng gà, vú sữa, hồng xiêm, chuối, bưởi, mít, doi, xoài, nhót, chôm chôm, măng cụt,… hoặc cây leo bám che phủ mặt sân, mặt hồ tạo bóng như bầu, bí, mướp, gấc, thiên lý, chanh dây,… Một trăm thứ quả anh ơi/ Vườn em trĩu trịt xin mời vào xem/ Cứng thì quả ổi còn ương/ Mềm thì quả thị chín vàng đã lâu/ Đỏ lòng thì đúng quả nâu/ Nhuộm khăn đan áo đẹp màu đôi ta/ Thơm mát chính hiệu quả na/ Biếu cha dâng mẹ hơn là chén son/ Đắng thì bồ kết, bồ hòn/ Để ta tắm gội cho trơn mái đầu/ Ngọt thì long nhãn, táo tầu/ Bưởi đường, cam, quýt nâng niu lựu, đào/ Chua thì quả hạnh, quả mai/ Quả sấu, quả dọc, quả gai trái mùa/ Đôi ta còn ngọt chửa chua/ Đừng tham táo rụng, đừng chê khế rừng/ Thanh yên, phật thủ thơm lừng/ Quả thơm mặc quả, xin đừng quên nhau (Ca dao).
Cũng không thiếu cây cảnh như cúc, lan, huệ, nhài, mẫu đơn, vạn thọ, hải đường, dạ lý, ngâu,… Tuy vậy, tùy tính chất thửa đất và điều kiện thời tiết mỗi nơi, mỗi lúc người dân trồng một thứ khác nhau: Trồng khoai đất cát, trồng bí trên gò/ Rau muống dưới ao/ Mồng tơi phên dậu; Tháp chạp thời mắc ngô khoai, tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà; Cuối thu trồng cải, trồng cần/ Ăn rong sáu tháng, cuối xuân thì tàn/ Bây giờ rau muống đã lan/ Lại ăn cho đến thu tàn thì thôi.
Nhờ nhiều cây cối, bốn mùa vườn quê sai trái sum suê. Nhiều cây có cả hoa, quả trắng, xanh, vàng, nâu, đỏ. Có những quả to như quả bưởi, quả mít, quả bí nặng trĩu, để cho cành khỏi gẫy người dân phải chống que phía dưới. Nói chung, khi thu hoạch, mọi người chỉ cần hái, chọc, rung, móc là quả rơi xuống. Riêng với cây cau và dừa, buồng quả ở tít trên ngọn nên phải leo trèo. Từ thu tới đông, lá rụng xào xạc. Lá trút nhiều đến nỗi quét không xuể, lắng đọng dưới gốc, rồi oải dần tiết ra mùi đất nồng nàn. Tuy trơ trọi song có sức mạnh tiềm ẩn chỉ sau vài đợt mưa, đầu cành lại nhú lên lộc biếc và cho những nhành lá mới xanh mượt.
Bởi hấp dẫn vì mùi hương và quả mọng, vườn quê luôn sôi động các loài côn trùng. Mỗi loại rau, hoa, quả ở đây đều có tác dụng chữa bệnh. Tía tô giúp ấm họng, bổ phế, tiêu đờm, chữa buồn nôn và cảm cúm; rau ngót hoạt huyết, sát khuẩn, trị mồ hôi trộm; đay giải nắng, chống táo bón, ngăn ngừa phù thũng; mồng tơi mát da, nhuận tràng; thiên lý an thần, tráng dương; ngâu chữa sốt, giảm sưng tấy; nhài trị mất ngủ và rôm sảy; mướp điều kinh, lợi sữa; chuối chống thiếu máu, chữa sỏi thận; ổi chữa sâu răng và tiêu chảy…
Có thể nói thứ gì trong vườn cũng giá trị, là chỗ dựa kinh tế của nhiều gia đình. Dân quê ăn uống đạm bạc, khi cần mớ rau, nắm quả, thang thuốc lại cắp rổ đi lòng vòng quanh vườn một lúc là đầy. Ngoài món ăn chính, mỗi mùa người dân đều chế biến được nhiều đồ thi vị như mùa hè có chè hoa quả, mùa đông có cháo vị hương, ngày tết có mứt, kẹo, bánh mặn-ngọt. Nhiều nơi còn nhuộm quần áo, thực phẩm từ củ, rễ, lá cây cho màu sắc tự nhiên không độc; dùng gỗ mít, nhãn, bưởi để đóng bàn ghế, giường tủ, tượng thờ; tận dụng hoa vườn nuôi ong lấy mật hoa nhãn, táo, cam… Người dân cũng đem sản vật trong vườn ra chợ bán, trao đổi hoặc đóng góp vào những bữa cơm giỗ tết, ma chay, cưới hỏi trong làng. Mọi người rất tự hào về mảnh vườn nhà, khi khách đến chơi đều dẫn ra vườn đi dạo, rồi sửa soạn bữa cơm thân mật đối đãi. Mỗi vụ thu hoạch hoa quả, người lớn thường sai trẻ nhỏ mang một ít sang biếu hàng xóm. Ngày xuân, nhà nọ tặng nhà kia những cành đào, khóm lan, chậu quất và những chùm quả xinh để trưng ba ngày tết, tăng không khí ấm cúng. Ngày lễ, người già đều sắp mâm cau, trầu, oản, quả, hoa vườn lễ chùa.
Đứng giữa vườn quê có cảm giác cuộc sống thật êm ả. Nhiều người thích mắc võng, bắc chõng nằm nghỉ dưới gốc cành. Thích tắm ao, nước giếng: Lấy gáo dừa múc nước lạnh đổ từ trên đầu xuống ướt nhèm, rồi nhảy lên đụn rơm hay chạc cây cho nắng, gió hong khô. Thích ngồi trên cành vừa ăn quả vừa ngắm cảnh.
Những người xa xứ luôn mong muốn được về ôm ấp từng gốc cây, bụi hoa do chính tay vun xới hay ăn quả ngọt, nấu bát canh rau chua do đích thân hái ngoài vườn. Nhiều người nhớ đến vườn quê là nhớ tới người thân, ruột thịt.
Giống như đình chùa, chợ búa, vườn quê có ý nghĩa cực kỳ sâu đậm trong đời sống dân lành. Phần lớn dân quê cả đời quanh quẩn quanh ngôi nhà và mảnh vườn nên ở đó lưu dấu rất nhiều kỷ niệm. Tại đây, khi còn là đứa bé, nhiều người lần đầu theo cha mẹ ra vườn đã biết thế nào là hoa cỏ. Lớn hơn, biết tự tay gieo trồng, chăm bón, canh chim, bó rọ, trảy quả, rỡ khoai, sắn giúp gia đình. Cũng tại đây những đứa trẻ xóm giềng quen biết chơi thân, hàng ngày chui rào sang nhà nhau, chung vui những trò dân gian nhí nhảnh như trốn tìm, chọi dế, kéo mo cau, xâu vòng hoa đội đầu, gài áo giả làm cô dâu chú rể, hái lá móng, củ nghệ, quả mực chế thành màu vẽ, thuốc nhuộm… qua các trò chơi thuần hậu nhân lên hoài bão, ước mơ trở thành bác sĩ, kỹ sư, giáo viên, văn nghệ sĩ cống hiến cho quê hương. Cũng nơi này, trai gái hò hẹn, tự tình trao nhau những nụ hôn và gửi tặng những chùm hoa, quả làm kỷ vật. Khi nên vợ nên chồng, nhiều người lại chung tay vun xới hạnh phúc từ chính mảnh vườn. Mọi sự phát triển của gia đình đều trông cậy vào vườn.
Từ hình ảnh của cây lá vườn quê, dân gian đã có nhiều lời hay, ý đẹp, ca dao, tục ngữ, thơ nhạc về cuộc sống muôn màu. Đầu tiên là nhắc nhở mọi người nhớ tới cội nguồn, tổ tiên, những người có công lao thuở trước: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Kế đó là nhắn nhủ anh em, xóm giềng yêu thương, đùm bọc: Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. Hoặc nhắn gửi mọi người sống giản dị, chân thật: Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê (Chân quê – Nguyễn Bính).
Cũng có nhiều câu nói cho thấy sự phong phú, tiện ích của vườn và địa vị thảnh thơi của gia chủ: Ao ta, ta thả cá chơi/ Vườn rộng nuôi vịt, vườn khơi nuôi gà/ Quanh năm khách khứa trong nhà/ Ao vườn sẵn có lọ là tìm đâu?
Với dân quê, vườn là chỗ cho thu nhập có thể an hưởng lâu dài nên nhiều người sống gắn bó với cây trồng và rất vô tư: Ai đi đường ấy mặc ai/ Ta về cấy lúa, trồng khoai, trồng cà. Thế nhưng, trên thực tế dù vườn tược đề huề đến mấy đa số người dân vẫn nghèo: Chim quyên lăng líu bụi riềng/ Vợ thì thấy đó, chạy tiền chẳng ra. Song ai cũng yêu sản vật vườn nhà, yêu những thứ đã nuôi nấng cho mình nên người: Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống/ Nhớ cà dầm tương.
Nhiều khi lại bắt gặp những ca từ xót thương thân phận phụ nữ nhọc nhằn: Thân em như hạt mưa sa/ Hạt rơi xuống giếng hạt tra vào vườn. Hoặc ngợi khen sự tài đảm, biết quán xuyến gia đình của người chị: Bồng em đi dạo vườn cà/ Cà non chấm mắm, cà già làm dưa.
Cũng có những từ ngữ khắc họa sự gạ gẫm, tán tỉnh của kẻ giàu và sự trong sạch, giữ mình của cô gái nghèo: Hái dâu chi nắng cô ơi/ Lại đây quan lớn cho đôi khuyên vàng/ – Vải bố phận gái cơ hàn/ Hái dâu nuôi mẹ không màng của ông; Trời sinh cây cứng lá gai/ Gió lay mặc gió, chiều ai không chiều.
Bên cạnh đó là lời chê trách những cô gái khờ khạo: Thiếu chi rau, em ăn rau ế/ Thiếu chi người em làm bé người ta? Và lời khuyên nhủ chí tình: Bướm vàng đậu trái mù u/ Có chồng càng sớm lời ru càng buồn. Đồng thời đả phá tính dan díu, thích của lạ ở nam giới: Đầu năm ăn quả thanh yên/ Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng. Hoặc châm biếm tính hay ngủ quên và làm đỏm của người già: Bà nằm bà có ngủ đâu/ Nó khênh nó bỏ vườn dâu bao giờ; Cau già dao bén thì ngon/ Người già trang điểm phấn son vẫn già.
Đặc biệt có rất nhiều lời ca về sự hiếu thuận của con cái với cha mẹ: Em ơi em ở lại nhà/ Vườn dâu em hái mẹ già em chăm; Trời mưa cho ướt lá dừa/ Cho tươi riếp, cải cho vừa lòng em/ Cho em hái đọt rau dền/ Nấu tô canh nấm dâng lên mẹ hiền; Đói lòng ăn đọt chà là/ Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.
Dân ca còn một mảng lớn qua cây nhà lá vườn thể hiện tình yêu đôi lứa, bạn bè. Nhân buổi hái rau, trai gái thường buông lời trêu ghẹo, tỏ tình. Chàng trai thường là người thổ lộ đầu tiên: Gần nhà mà chẳng sang chơi/ Để anh hái ngọn mùng tơi bắc cầu. Hoặc: Tới đây mướp lại gặp dưa/ Bầu kia gặp bí sao chưa chung giàn?; Bây giờ mận mới hỏi đào/ Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Cũng có lúc cô gái giãi bày trước: Anh về đào lỗ trồng cau/ Cho em trồng ké dây trầu một bên/ Mai sau cau nọ lớn lên/ Trầu kia ra lá, đền ơn cho chàng.
Khi tình cảm mặn mà, chàng trai quyết định công bố rõ ràng quan hệ giữa hai người. Tiếp anh tại nhà, cô gái nhã nhặn cho biết cha mẹ đã ưng thuận: Vào vườn trẩy quả cau xanh/ Bổ ra làm sáu mời anh ăn trầu; Trầu này trầu nghĩa trầu tình/ Ăn vào cho thắm môi mình môi ta. Song là phụ nữ, chị luôn mong ước có được một cuộc sống no đủ, một tấm chồng ưng ý: Mẹ mong gả thiếp về vườn/ Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.
Như dân gian thường nói tình yêu luôn đi qua cái dạ dày, nhiều anh chàng từ đầu đã tỏ ý thích người yêu bởi tài nữ công gia chánh: Thương em vì cá trích ve/ Vì rau muống luộc vì mè trộn măng. Tương tự, các cô nàng cũng vậy: Phải đâu chàng nói mà xiêu/ Tại niêu cá bống tại siêu nước chè/ Yêu anh bởi cháo lá đề/ Bởi canh ngải cứu, bởi trà râu ngô.
Sự đời bày đặt trái ngang. Đôi lứa yêu nhau song đáng tội là một người đã yên bề gia thất. Khi biết chàng trai đã có vợ, cô gái nhìn anh xót xa: Anh đã có vợ con rồi/ Sao anh còn ước hoa hồi cầm tay?/ Hoa hồi nửa đắng nửa cay/ Nửa ngọt như mía nửa cay như gừng. Thấy cô gái đã lấy chồng, chàng trai tiếc nuối: Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân/ Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc/ Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay/ Ba đồng một mớ trầu cay/ Sao anh không ngỏ những ngày còn không; Ai đưa con két vào vườn/ Để cho con két ăn buồng chuối tiêu.
Lại có đôi bạn đang yêu nồng cháy thì một người phụ bạc. Chàng trai trách: Gió chiều lay động tàu dừa/ Dứt tình tại ả, anh chưa tiếng nào. Cô gái than thở: Tiếc công vun bón cây tùng/ Săm soi trên ngọn, gốc sùng không hay. Lại có đôi trai gái yêu nhau thật sự, nhưng bị cha mẹ ngăn cấm, bị xa xôi cách trở, trải bao biến cố vẫn chung thủy, chờ đợi: Chờ anh, em hết sức chờ/ Chờ cho rau muống lên bờ trổ bông.
Là vợ, người phụ nữ luôn cơ cầu, tần tảo vì chồng: Sáng trăng sáng cả vườn chè/ Một căn nhà nhỏ đi về có nhau/ Vì tằm tôi phải chạy dâu/ Vì chồng tồi phải qua cầu đắng cay. Là chồng, có anh thương vợ cũng có anh hay chê bai, chấp vặt khiến vợ ấm ức: Khế rụng bờ ao tanh tao anh lượm/ Ngọt như cam sành héo cuống anh chê; Răm kia hái ngọn còn tươi/ Lòng nghe anh nói mấy lời mà cay/ Kể chi những chuyện trước đây/ Lòng em tưởng những núi này non kia.
Cũng có những người không thành duyên vẫn trân trọng những kỷ niệm đẹp. Về già, các cụ lão gặp lại. Mặc dù không muốn nhắc tới chuyện cũ song nó đã trở thành những kỷ niệm khó phai.
