TUẦN TỚI CÓ VỀ MANG CHÚT QUÀ QUÊ

Sản vật nơi làng quê

Hồi nhỏ mỗi lần nghe mẹ bảo, nhà sắp có khách, là bác trai bác gái dưới quê đến chơi thì tôi lại mừng lắm, phần vì cả năm mới được gặp mặt và phần vì thể nào hai bác cũng mang lên cho tôi mấy thứ quà quê.

Lớn hơn, khi được thăm quê, tôi càng có dịp được thưởng thức nhiều thứ quà mới. Người quê rất chu đáo. Biết tôi về, hàng xóm láng giềng, ai cũng kéo sang hỏi chuyện, và mang những sản vật cây nhà lá vườn ra biếu. Khi về, chiếc xe đạp lỉnh kỉnh đủ thứ, không còn chỗ để, nào là con gà với hai chục quả trứng, nào là nải chuối với buồng cau, cộng thêm một, hai can rượu, thậm chí là chai tương hay dấm bỗng… Nhà bác trồng nhiều khoai, sắn nên cũng có thêm một tải khoai sắn. Những gói quà nhỏ song ân nghĩa, cho thấy tình cảm ruột rà.

Trên khắp nước ta, dọc các con đường làng, ngõ xóm đều thấy những mặt hàng dung dị, hàng ngày là nhu yếu phẩm song khi đem biếu, cho, tặng và bán ở những địa điểm xa cách lại là món quà hết sức quý giá.

Một số món kẹo dân gian

Mỗi nơi đều có đặc sản riêng, và nhờ thế quà quê là thứ quà rất đặc trưng. Làng làm mía có kẹo lạc, kẹo vừng, kẹo bột, kẹo dồi, kẹo kéo, mạch nha, chè nam, mè xửng, bỏng ngô, bỏng gạo… Làng làm bánh có bánh tẻ, bánh nếp, bánh giò, bánh chưng, bánh dày, bánh gai, bánh khúc, bánh cuốn…

Làng làm thuốc có cam thảo, hà thủ ô, nhân sâm, bạch truật, ý dĩ, phục linh, thục địa, đương quy, xuyên khung, đậu khấu, ngưu tất, sinh khương… Làng dệt có vải, vóc, lụa, là, gấm, the, lĩnh, bằng, quế, đoan, sa,  kỳ, câu, đũi,… Làng rèn có dao, kéo, búa, liềm, cày, bừa, cuốc, thuổng…

Những mặt hàng được bán ở ngay đầu cổng, trên đường quê và các ngả đường chạy ra các tỉnh thành lân cận, trong các lều quán đơn sơ, dưới những tán cây cổ thụ rộn rã tiếng chim. Nhờ được che chắn, chủ khách xúm xít chan hòa. Người ngồi trên ghế, kẻ chồm xổm. Lại có khi đó chỉ là gánh hàng rong với những dáng bà dáng chị liêu xiêu, đi trên con đường bụi đỏ, bước thấp bước cao, quẩy đôi thúng bập bênh nặng trĩu vai gầy.

Những thứ bánh thơm ngon

Từ ngày xưa, các mặt hàng vẫn do các cô hàng xén buôn bán. Khuôn trăng xinh đẹp, ăn nói dịu dàng, tay đưa thoăn thoắt, miệng dạ dạ vâng vâng. Hình ảnh của cô hàng xén đã đi vào ca dao với những câu hát đằm thắm: Chợ làng một tháng chín phiên/Đôi cô hàng xén xe duyên bán hàng/Cô có phèn chua, cánh kiến, vỏ vàng/Dây thau, dây thiếc, dây đàn, lưỡi câu/Cô có gương soi, có lược chải đầu/Hòn son, thoi mực, giấy tàu bày ra/Cô có hoàng cầm, thanh đại, chu sa/Cam thảo khổ luyện cùng là hoàng liên/Cô có phẩm xanh, phẩm tím, phẩm hường/Thạch xanh cô bán cho phường bát âm/Táo tàu với củ nhân sâm

Hoặc như những cụ bà phơ phơ tóc trắng, đội những chiếc khăn đen hình mỏ quạ, mặc tấm áo ngắn nâu sồng; khuôn mặt khắc khổ; vầng trán, khóe mắt hằn dấu chân chim; miệng bỏm bẻm nhai trầu, khoe hàm răng đen nhánh… Các cụ là kho tàng những chuyện kể dân dã. Trẻ em mỗi khi sà vào mua cái bánh, mẩu kẹo đều muốn được các cụ kể cho nghe một vài câu chuyện cổ tích.

Vẫn như xưa, những quán, gánh quà quê hôm nay vẫn thường một lúc chứa nhiều loại hàng, có loại bán theo mùa vụ, loại bán cả năm. Song thông thường mùa nóng có cháo (hoa, đậu xanh, đỗ đen), bún riêu, bánh đúc, bánh đa cua, thạch, chè, tàu phớ… Mùa lạnh có cháo lòng (tim gan), bún (bung, ốc), miến, phở, bánh rán, bánh chuối, khoai, sắn, ngô nướng thơm nức… Cũng có những chú tò he bằng bột gạo, đất sét pha mực màu và nặn thành hình muông thú. Hoặc những con nghé ọ lá đa, lá đề; những cái chong chóng giấy, con cù, con quay…

Bánh lá, đặc sản quê hương

Mỗi món quà đều nhỏ, nằm gọn trong chiếc lá, được buộc xoắn bên ngoài bằng một sợi rơm vàng hay nạt đỏ. Xếp thành chục, thành chuỗi, khi cần rút ra dễ dàng. Tuy nhỏ song chúng thu hút kỳ diệu đối với trẻ thơ. Khi nhìn món quà, mỗi đứa trẻ đều cảm thấy háo hức, nhiều khi mẹ bảo con phải để phần em hoặc anh chị song vì thèm quá, thi thoảng đứa trẻ lại cắn một miếng rồi hết lúc nào không biết.

Nói đến quà quê là nói đến hương đồng cỏ nội, sự giao hòa trời đất. Có ngọt có mặn, cay nồng, vừa chua vừa chát. Trên thịt dưới mỡ, xung quanh dưa, hành, củ quả…, có mầu trắng cũng thấy mầu xanh, mầu đỏ, mầu vàng… Mỗi thứ một chút, cái xắn, cái viên, cái phết, cái túm tạo nên cái bánh, thỏi kẹo. Mỗi món quà dù hình dạng thế nào, mầu sắc, mùi hương ra sao đều kết tinh bao công sức. Chúng đều làm bằng thủ công. Muốn cái bánh nếp, phải trồng lúa, xay giã giần sàng cho hạt gạo trắng thơm, sau đó ngâm nước, nghiến thành bột, để ráo khô, bứt thành cục làm vỏ, thịt bánh. Muốn có cái nhân làm từ đậu xanh, thịt lợn, tôm cua cũng phải trồng và nuôi. Đậu đem đãi vỏ, đồ nhuyễn; thịt thái lát miếng, xếp vào giữa. Kế tiếp quấn lá dong, lá chuối, lá môn được hái sau hè đã rửa sạch, đem vào nồi hấp cho thật chín, trên một bếp lửa cháy liu riu nhiều ngày cho bánh chín tới. Bánh ra lò, xếp đều vào thúng, mủng, bung, sọt đem đi các chợ quê và tỉnh thành bán. Cách trở đoạn đường, nắng mưa cực nhọc, để khách biết về bánh, lại phải rao mời, giới thiệu, giọng nghe khản đục.

Cô gánh hàng, hình ảnh quen thuộc của làng quê

Nhắc đến quà quê do đó cũng là nhắc tới những tiếng rao mềm mại và bền bỉ. Buổi sáng sớm se lạnh, buổi trưa trời nồng hay buổi đêm ánh đèn bập bùng, trong khi mọi người còn mơ màng thì ngoài kia đã nghe lanh lảnh những tiếng gọi mời: Ai tàu phớ đêThạch xanh thạch dừa đâyBánh đúc nóng!…, những tiếng xe đẩy cọt kẹt, những tiếng xô thùng cắc cụp, những tiếng gõ côm cốp vào thành xe báo hiệu.

Xưa kia, dù cố định trong quán hay đi rong ngoài ngõ, các gánh quà đều có một bếp than bé xíu, trên đặt một chảo mỡ xèo xèo hoặc một nồi canh nhỏ lửa. Và một vài chiếc ghế con con treo bên đầu thúng, khi có khách liền hạ xuống để khách vừa ngồi ngắm cảnh vừa ăn uống.

Ăn quà quê trước kia người ta chỉ cần bỏ ra vài đồng tiền lẻ, tương ứng với dăm trăm một nghìn đồng ngày nay, để thưởng thức một vài thanh kẹo, một bát xôi, một chén chè… Chưa ai nói ăn quà đến cả bạc trăm bạc triệu.

Ăn quà quê từ xưa đến nay vẫn là kiểu ăn tự nhiên, tự tại. Người ta tha hồ nhằn, cắn, nhai, bấu tự do, không dè dặt cho dù giữa chốn đông đúc. Cùng lúc nhiều người quây quanh một mẹt bánh, một rổ khoai, một thúng cháo… vừa ăn vừa cười sằng sặc. Những cặp bánh nếp tươi lành được những đôi bàn tay nhanh nhẹn vớt khỏi nồi, những củ khoai củ sắn liên tiếp được đưa vào bếp rồi cời khỏi vỉ nướng, ôi chao là nóng, khói bốc nghi ngút, ấy vậy mà ai nấy thản nhiên dấm dúi vào vạt áo, đưa lên miệng thổi, xuýt xuýt xoa xoa. Những tiếng rào rạo, đôm đốp do vụn bánh, vụn kẹo gẫy thật vui tai.

Đặc tính của quà quê là hay thêm. Người bán luôn cố gắng cho khách thêm một phần quà nữa. Biết ý, khách đưa tay đỡ lấy gói quà và nói: Cháu xin hay tôi xin cô/bác…, Người bán cũng dịu dàng đáp: anh chị ăn nhanh hoặc uống đi cho ấm, cho đỡ đói bụng, và những câu hỏi ướm nhẹ nhàng: thế nào có vừa miệng không, ngon chứ,… Giữa chủ và khách hành xử như bạn bè, thân hữu tình cảm. Vì cách ứng xử dễ nhớ dễ thương đó, mỗi khi đi qua đoạn đường ấy, có kẻ lại ngóng trông, mời mọc.

Hàng quán ăn uống khắp nơi

Nhiều khi quà quê không chỉ là thức ăn đồ uống mà là hình ảnh của quê hương, là cách nói ví von biểu tượng, thể hiện vẻ đẹp của làng quê và tình cảm yêu mến thiết tha. Vì thế, quà quê là một lát cắt, một phần hình ảnh của xứ sở. Mỗi dịp về quê hay từ quê ra chơi thành thị, mọi người đều cố gắng mang theo thật nhiều quà cho gia đình, người thân, bè bạn, và rồi nâng niu gìn giữ như đang ôm ấp bóng hình quê hương.Với những sinh viên, người xa xứ, quà quê có ý nghĩa hệ trọng, thấm đẫm tình quê, tình cảm ruột thịt, thân quyến. Trong những bao gạo, muối, hành, tỏi, ớt, quần áo mà cha mẹ gửi cho, còn có những bức thư dặn dò ấm áp. Đặc biệt khi đó là quà tết dành cho những bạn ở xa không kịp về thăm nhà, giở gói quà đứa nào đứa nấy khóc rưng rức, nhớ quê da diết, muốn về trong vòng tay thương yêu. Món quà ngày Tết sinh viên vẫn đạm bạc với gạo, muối, tương, cà song có thêm chiếc bánh chưng và một số đặc sản quê nhà với ngụ ý của gia đình không muốn con em thiếu thốn nhân ngày vui của cả dân tộc. Một lớp học có 50 sinh viên thì có chừng ấy thứ quà quê để trao đổi. Khi về quê, bạn bè đều nháy mắt nhắn nhủ: Tuần tới có về/Nhớ mang một chút quà quê.

Tò he, sản vật vừa ăn vừa chơi

Những sản vật quê hương đã nuôi nấng biết bao con người. Có những người đã đi khắp nơi, biết được bao nhiêu điều, song không thể nào quên được những thứ giản dị quê mình. Những ngày giỗ tết, đều tổ chức làm những món quà nhỏ gửi tặng người thân để nhắc nhở con em nhớ về quê hương, dòng họ. Cả nhà làm bữa cơm, cùng ngồi ôn lại những kỷ niệm đẹp, nguồn gốc của những món quà và sự tích làng mình…

Quà quê tuy nhiên giờ đã thưa dần, gần như đã trở thành đặc sản bởi ít người về quê, mấy kẻ sang chơi. Nhiều người bận rộn với công việc, ngại qua lại. Một số nơi cũng cấm hàng rong nên những mặt hàng quê hiếm hoi, có những thứ quà không còn nữa bởi ngay ở quê sản xuất đã ít, lại không có đầu mối tiêu thụ. Dư vị của quà quê vì vậy là nỗi nhớ quê hương vời vợi, hằn sâu trong trái tim của những người con xa xứ. Nhìn những thứ súng lục, ô tô, xe máy nhựa, những đồ điện tử xanh xanh đo đỏ bọc giấy bóng kính, gắn chữ tây tàu thêm nhớ quê.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
error: Content is protected !!