Lễ hội đua ngựa Lý Đường là một lễ hội truyền thống của người dân tộc Khampas ở vùng cao nguyên Tây Tạng, được tổ chức hàng năm tại huyện Lý Đường của tỉnh Tứ Xuyên- Trung Quốc và thường kéo dài từ ngày mồng một đến mồng bảy tháng tám. Đây là dịp để người dân Khampas trên cao nguyên, tụ họp, giao thương, thi đấu các môn liên quan đến ngựa như đua ngựa, thi kỹ năng cưỡi ngựa, nhảy tim cùng các hoạt động văn hóa khác, như biểu diễn khiêu vũ và thời trang mang đậm nét Tây Tạng.
Cứ tới đầu tháng tám, khi hoa dại nở rộ và những đồng cỏ lên xanh bát ngát, thì người ta lại đổ về huyện Lý Đường nằm ở độ cao 4.000 mét để tham dự hội vui, chủ yếu là đua ngựa mà đã có truyền thống hàng trăm năm, bắt nguồn từ sự tôn vinh sơn thần và mùa hè Tây Tạng. Ai nấy đều mặc những trang phục cổ truyền rất sặc sỡ, diêm dúa, trong đó có những cái áo tay dài tha thướt như đôi cánh tiên, rồi nhảy múa, ca hát, thậm chí đua ngựa lãng mạn như thể thần tiên hạ phàm vậy!. Và họ dựng ven đường, dọc theo thung lũng vô số lều trại, đưa Lý Đường trở thành một biển lều sinh động, tráng lệ.
Do đời sống du mục phụ thuộc nhiều vào ngựa, giúp săn bắn, đi lại và thồ hàng nhanh chóng nên hàng năm, người Khampas luôn dành khoảng bảy hôm giữa mùa mưa nhằm chọn ra những chú ngựa khỏe nhất, những người cưỡi giỏi nhất và tổ chức thành các cuộc thi, như đua ngựa, cưỡi ngựa bắn cung, cưỡi ngựa quăng dây, cưỡi dưới bụng ngựa, nhặt lụa Hada dưới đất và các trò khác như nhào lộn, tung hứng, trồng cây chuối lúc ngựa phi, kéo co, cử tạ, trình diễn thời trang, nhảy múa hay giao bán nhu yếu phẩm, như áo chuba, giầy sueba, mũ bazhu, tạp dề bangdian, vòng cổ các loại bằng vàng bạc, ngọc ngà, san hô, mã não quý giá là những thứ chỉ Tây Tạng mới có. Khi đến hội của người Khampas, dù không mua gì, bạn cũng được đón tiếp rất nồng hậu, như mời vào trong lều Bra-nag uống trà bơ, rượu sữa ngựa, ăn thịt bò yak bên những bếp lửa ấm cúng. Có hàng ngàn túp lều rực rỡ quanh hội chợ và bên trên đều in vẽ, thêu, đính đầy biểu tượng Phật giáo và là chốn nghỉ ngơi an lành của du khách qua đêm.
Từ sáng tinh mơ của mỗi ngày hội, mọi người đã xếp hàng chật đường, dọc các trường thi để xem đua ngựa, và chưa cần đua chỉ cần nhìn đoàn người ngựa nối đuôi nhau diễu hành đã thấy thú vị. Mỗi chú ngựa đua đều được trang điểm rất đỏm, thường là cổ sẽ đeo vòng lục lạc (chuông), đuôi sẽ buộc nơ (tua rua), còn lưng đóng yên lộng lẫy bảy màu. Chủ của nó cũng rất bảnh, ngoài áo quần nhiều màu thì trên người còn lủng lẳng đủ thứ vòng xuyến, nói chung trang sức của cả nam lẫn nữ Tây Tạng dù chỉ là một cái hạt trong vòng cổ cũng to bằng cỡ chén hạt mít. Từng người dắt theo một chú ngựa, tuy khác màu song cùng là nòi Tibetan pony hoặc Riwoche. Tùy nội dung, ai đó sẽ thi đua tốc độ trong vài trăm mét tới hàng cây số hoặc thi bắn nỏ, bắn súng, cúi rạp người xuống đất, kéo lê thê để lấy Hada- một dải lụa có ý nghĩa quan trọng trong Phật giáo về sự an lạc, hạnh phúc… Mỗi đợt thi đều rất gay cấn, kịch tính vì người chơi luôn ở trạng thái đua chen sát nút và những tư thế, động tác của họ như bay lên hay cùng ngả người đón vật gì đều làm khán giả hồi hộp, phấn khích vì vẻ đẹp khó tả. Tuy nói là đua ngựa song nó là một trò chơi tạp kỹ, cầu kỳ, nhiều pha mạo hiểm, ngoạn mục và cần có sức mạnh, sự khéo léo, dũng cảm của một chiến binh và nghệ sĩ xiếc. Xem đua ngựa đã thích mắt, song tại đây còn thấy nhiều màn biểu diễn ấn tượng nữa, gồm ca, vũ, kịch dựa trên Phật thoại, và bạn sẽ được xem opera của Tây Tạng, các điệu múa mặt nạ, múa Xianzi, múa Guo Zhuang… nhuốm màu huyền bí do lễ hội này được đại tu viện lâu đời nhất ở Lý Đường cho mở vào năm 1580 để hoằng dương Phật Pháp và tưởng nhớ vị Dalai Lama thứ ba.
Kỳ thực, từ nhiều tháng trước, nhất là tháng giáp lễ hội, người dân ở khắp Tây Tạng đã hối hả trảy hội về Lý Đường để tôn vinh văn hóa của họ. Ai nấy rời xa nhà cửa, thị trấn để tìm lên những thảo nguyên mênh mông, nơi lưu giữ những truyền thống ngàn năm. Khi du khách hòa mình vào cuộc sống của người dân, sẽ được họ mời tham dự lễ hội, chia sẻ lối sống bản địa và kết bạn thâm giao.
Trong mấy đêm, trên đồng cỏ se lạnh, những đống lửa được nhen lên và lều bạt mau chóng được dựng xung quanh. Nếu bạn ở đó, sẽ được mời vào trong lều ở thử và dùng bữa với các gia đình. Họ sẵn lòng chia sẻ chăn màn, đồ uống và bữa ăn cho du khách, không những thế còn sôi nổi kể về lối sống cổ truyền liên quan đến việc du mục và liên tục nhắc nhở về nỗi lo có một ngày nào đó truyền thống của họ sẽ bị biến mất và tại sao họ lại tôn vinh và truyền thừa nó cho các thế hệ sau này. Một trong những câu chuyện của họ là việc nuôi bò, nuôi ngựa trên cao nguyên cách đây 3.500 năm, cách họ thuần dưỡng những con bò yak lụ khụ, vắt sữa chúng để biến sữa thành bơ, sữa đông, pho mai để bảo quản lâu dài do thức ăn chủ yếu của họ là bơ sữa. Rồi cách làm lều- nơi trú ẩn từ lông bò, bắt đầu với việc bện thừng và đan chúng thành các sản phẩm. Tất thảy những câu chuyện ấy là chất liệu của những huyền thoại cho thấy sự đấu tranh sinh tồn ngay từ buổi đầu tiên khi ở đây trong một môi trường cực kỳ khắc nghiệt, với độ cao rất lớn, ít cây cối và mùa đông giá lạnh. Và để vượt qua nó, người ta đã phải làm quen, thích nghi dần dần. Ngay từ khi một đứa trẻ hai tuổi, em đã được cha dạy cho cưỡi ngựa cho đến khi bài bản mới thôi và có được những màn cưỡi ngựa điêu luyện, ví dụ như đứng trên lưng ngựa, nằm dưới bụng ngựa trong sự ngưỡng mộ của mọi người, và dĩ nhiên em sẽ được cả nhà khuyên nhủ đi thi trong lễ hội đua ngựa Lý Đường. Các em gái còn được mẹ dạy hát và múa, mặc những áo dài thướt tha để vung vẩy, thậm chí trên ngựa, làm nên vẻ đẹp thư thái, huyền diệu của cao nguyên. Cưỡi ngựa tại lễ hội thật tuyệt vời, những điệu nhảy và bài hát thật vui say nhưng điều thực sự để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng du khách là cảm giác nhất thống của cả một cộng đồng đoàn kết, yêu đời.
