TRANG PHỤC TRÊN CAO NGUYÊN TÂY TẠNG

Tây Tạng là một vùng núi và cao nguyên nằm ở độ cao nhất nhì thế giới, quanh năm sương mù ẩm ướt, se lạnh. Khí hậu ở đây luôn mát mẻ, mùa hè tương ứng với mùa thu ở những nơi khác, còn mùa đông nhiều tuyết rơi trắng xóa.

Người Tây Tạng thường mặc những bộ đồ dày, to bản làm từ len, dạ, nỉ và lông thú, có thể chịu được thời tiết khắc nghiệt. Trang phục Tây Tạng hơn thế còn rất đẹp, trên đó thường thêu hoa, dây lá, gắn đá quý, san hô. Đó vừa là cái để mặc, để khoe cũng là vật gia bảo người lớn giữ gìn, rồi truyền lại cho con cháu. Tùy từng vùng, có một kiểu trang phục và cách mặc riêng, nhưng đều phản ánh rất rõ nét văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng, cá tính và sự giàu có của những người dân trên cao nguyên.

Nói chung, trang phục Tây Tạng gồm có áo choàng thường ngày mặc dài đến gót, và áo sơ mi mi ngắn vận trong và khoác ngoài. Mỗi người Tây Tạng đều mặc áo choàng này. Đây là loại áo có thân trước rộng, tay dài, với tay trái dài hơn tay phải và có thể tháo rời, vén lên, làm từ da cừu, lông và len dạ. Áo không có túi nên phần thân trên thường có vai trò như một cái túi. Áo choàng nam giới có tay dài hoặc cộc, còn áo choàng nữ giới có hoặc không có tay ái. Khi trời nóng, họ thường tháo rời tay áo ra để tiện cho việc lao động, sinh hoạt và khi trời lạnh lại lắp ghép tay áo ấy vào như cũ.

Cả áo choàng nam và nữ Tây Tạng đều dài hơn người. Thay vì cài khuy, họ thắt ngang eo hai vòng bởi một sợi dây lưng, rồi buộc nút, cho vạt áo trái đáp lên vạt áo phải, phân chia thân áo thành hai khoang. Nhờ đó, thân trước sẽ xổ xuống ở ngang eo, làm thành cái túi đựng được những vật dụng cần thiết, thậm chí một đứa trẻ.

Dây lưng của nam giới được làm từ lụa xanh, vàng, đỏ còn của nữ giới là lụa hồng. Trên đó, nam giới sẽ đeo hộp thuốc lá, đá lửa và một con dao; phụ nữ thì treo những cái móc bạc hoặc đồng thau hình hoa sen, chim bướm vừa để trang điểm vừa làm vật cạo gió khi cần thiết. Riêng trong tang phục, dây lưng được thắt nút ở phía trước.

Với loại áo tốt, cổ và riềm được làm bằng chất liệu đặc biệt như ở nam giới là lông báo hay cáo, ở phụ nữ là vải đỏ hay nhung kẻ. Nam giới thường có sơ mi trắng, cổ cao, cài khuy; nữ giới mặc sơ mi cổ bẻ, không có khuy, tay áo có thể dài quá ngón. Các bà, các chị thường xắn tay áo lên khi làm việc. Song khi nhảy múa lại để  nguyên cho tay áo dài phấp phới, góp phần giúp cử động duyên dáng. Nam giới còn mặc quần chẽn và áo vét; nữ giới có áo ngắn khoác ngoài.

Tùy theo địa phương, lối sống và hoạt động mà có nhiều kiểu áo và loại vải khác nhau. Người ở đô thị có áo choàng làm từ len dệt máy, người ở vùng trồng trọt có áo từ len dệt tay pulu, người trên đồng cỏ có áo lông cừu hay da động vật để chống lại cái lạnh hoặc làm chăn.

Ở phía bắc Tây Tạng, khí hậu lạnh nhất. Nhiệt độ giữa ngày và đêm chênh lệch lớn, và đa số người dân sống du mục nên họ mặc áo lông choàng quanh năm. Đêm đến, họ thường khoác thêm một lớp áo choàng nữa để làm chăn. Chiếc áo này rất dày và to sụ, ngoài người mặc còn có thể choàng được thêm cho một đứa trẻ dăm sáu tuổi. Tuy áo không có túi song nhờ dây buộc ngang lưng mà phần ngực có chỗ rộng để đút tay hay mang một số đồ thiết yếu. Ban ngày, họ mặc áo không có tay hoặc chỉ có tay bên trái, cũng có thể buộc tay áo bên thắt lưng để khỏi vướng víu khi lao động.

Cư dân trên đồng cỏ có thêm cái tạp dề trước bụng. Thân trước áo viền một lớp nhung đen, nhung kẻ hay vải len. Dưới cổ tay và tạp dề viền vải sọc rực rỡ. Với bộ trang phục ấy, con người trong khung cảnh của cao nguyên với trời xanh, mây trắng, cỏ non, núi tuyết và đàn gia súc gặm cỏ… như một bức tranh thêu.

Ở phía nam Tây Tạng, khí hậu nóng ẩm nên người dân mặc y phục mỏng hơn, thường bằng tuýt-xi, áo có khuy cài bên phải. Cổ áo, cổ tay, các đường riềm trước và sau áo nam đều viền vải màu. Ở Lhasa và Sơn Nam, khí hậu ấm hơn nên nam giới thường mặc áo choàng hai lớp để khi nóng cởi bớt, khi lạnh mặc thêm. Phụ nữ có áo ngắn tay bó sát. Nữ giới đã có chồng còn đeo thêm một cái tạp dề ngang eo.

Người Tây Tạng có nhiều kiểu mũ. Mùa hè họ đội mũ len, mùa xuân mũ nỉ và mùa đông mũ lông. Phụ nữ nhà giàu còn đội mũ bazhug đính ngọc trai, san hô, đá quý và đeo một vật trang sức trước ngực gọi là kawu. Trong các loại mũ, mũ thêu là tiêu biểu nhất, được làm từ nỉ, thêu hoa bằng chỉ vàng và bạc. Mũ có bốn vành, lót da thỏ hay da rái cá. Hai vành trước và sau lớn hơn vành hai bên. Phụ nữ thường gập hai vành lớn vào trong, chỉ để hai vành nhỏ bên ngoài. Nam giới thường gập ba vành ở phía sau và hai bên, chỉ để vành trước trán. Người già thường để cả bốn vành tự nhiên.

Họ cũng có nhiều loại giầy dép như songba, jialou, douzha… sau khi sục chân vào họ buộc từ gót lại. Người trên thảo nguyên còn có loại ủng cao hơn gối, bằng da bò và cừu. Hoặc giầy da và len, quai mềm, đế cứng, gót phẳng, đầu mũi giầy vuông, tròn, búp măng hay hếch. Phụ nữ luôn đeo hai loại tạp dề, một loại có kẻ to và loại kia sọc nhỏ. Loại kẻ to màu sắc rực rỡ như cầu vồng, loại sọc nhỏ màu nhẹ, mát mắt.

Ngoài chức năng giữ ấm và làm đẹp, trang phục Tây Tạng còn có ý nghĩa tâm linh sâu sắc vì người dân theo đạo Phật. Vào thế kỷ VII, vị anh hùng dân tộc Songstan Gampo của Tây Tạng đã thành thân với Công chúa Văn Thành đời Đường Trung Hoa và một công chúa Nepal. Cả hai đều theo đạo Phật và mang tới Tây Tạng một bức tượng Thích Ca Mâu Ni. Từ đó, đạo Phật lan khắp miền cao nguyên này và chuyển biến thành Phật giáo Tây Tạng, trong hàng thế kỷ đã không chỉ ảnh hưởng tới quan điểm, cách ứng xử của người dân mà còn ảnh hưởng tới khiếu thẩm mỹ, y phục và cách trang điểm.

Người ta coi màu trắng là biểu tượng của sự thanh bạch nên trong đời sống luôn trang hoàng nhà cửa với màu trắng, thích mặc áo ngắn màu trắng hay viền áo bằng màu trắng. Họ cũng dùng màu đỏ, vàng, rõ nhất ở trang phục các nhà sư như Guru Rinpoche đội mũ đỏ, sư Tsongkhapa đội mũ vàng.

Người Tây Tạng thích trang trí quần áo bằng những vật quý giá. Họ tin rằng nó sẽ giúp liên hệ với thần linh, tránh điều dữ. Đồ trang sức thường to, nặng, phức tạp và cao giá được căn cứ vào màu sắc, kích cỡ nhiều hơn là về mặt chất lượng của kim loại hay đá quý. Phần lớn đồ trang sức và trang trí trên mũ của nữ giới đều bằng vàng, bạc, đồng, san hô, hổ phách, đá mã não hoặc lam ngọc.

Đặc biệt hấp dẫn trong các đồ trang sức là chiếc hộp bạc kawu đựng bùa hộ mệnh trước ngực và đeo trên sợi dây chuyền. Chiếc mũ, chiếc bangdian giống với cái tạp dề cũng góp phần làm nên vẻ đẹp của bộ nữ phục. Nam giới luôn đeo gươm và hộp đựng đá lửa. Nam, nữ còn đeo tràng hạt hoặc những chiếc cối kinh của Phật giáo để làm bùa hộ mệnh.

Thời gian đẹp nhất để làm nổi bật các trang phục Tây Tạng là vào dịp lễ hội, khi có nhiều cuộc đua ngựa và hội chợ. Một ví dụ là lễ hội hàng năm ở thị trấn Naggu phía bắc Tây Tạng. Vào ngày hội, nam giới thường mặc áo choàng lông màu đen, lam hoặc vàng, dắt dao nhíp, những viên đá lửa, những hộp đựng thuốc lá và những đồng bạc ngang lưng. Phụ nữ cũng trưng diện áo choàng dài hình quả chuông, tết tóc thành các lọn nhỏ, gài quanh bím tóc những chiếc kẹp và đồng xu bằng vàng, bạc hoặc đồng, đeo khuyên tai, mang vòng cổ, đội mũ, nón gắn đá quý. Những người đua ngựa mặc áo màu lam đậm, với quần chẽn đỏ hay đen và đi ủng da… Nhiều bộ đồ diêm dúa có giá trị hàng triệu nhân dân tệ.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
error: Content is protected !!