Chùa chiền ở Việt Nam, cũng như chùa chiền trên khắp châu Á, đều có một cảnh quan thiên nhiên vô cùng xinh đẹp, gắn liền với hoa lá, chim thú và thần linh cùng hướng về Tam Bảo, để hoằng dương và bảo vệ Phật Pháp. Theo Kinh Liên Hoa, mọi loài vật trên trái đất này đều có công hộ Pháp và phù trì thế giới, giúp con người phân biệt được phải trái, thiện ác và cuối cùng hướng đến chính đạo nhằm thoát khỏi khổ đau, nghiệp báo. Vì thế, vào những ngày đầu xuân- lễ Tết, dân gian ta đều đi lễ chùa để được ánh sáng từ quang của Phật soi chiếu, những lời kinh câu kệ thức tỉnh và những hình tướng Hộ Pháp lúc hiền lúc dữ nhắc nhở sống tốt.
Hình ảnh đầu tiên trong hệ thống thần linh Hộ Pháp, khuyến thiện, trừng ác thường thấy ở nhiều đền chùa là hai vị thần gác cổng, cũng có thể là bốn vị thần, gọi chung là Tứ Đại Thiên Vương. Kế đó lại gặp các ngài trong Phật điện hoặc hành lang bốn bên bao quanh Phật đường theo một hình tròn phỏng theo Linh Sơn. Và ở nhiều nơi tại miền Bắc như chùa Mía- Sơn Tây, chùa Tây Phương- Thạch Thất, chùa Dâu- Bắc Ninh còn có Bát Bộ Kim Cang, tức là tám đại Hộ Pháp cầm chùy – kim cương chử, canh giữ sự bình an và linh thiêng của cửa thiền. Hình ảnh của các vị được xây dựng từ các vị Bồ Tát, cũng từ Bát Bộ Chúng, với mỗi người đứng đầu một bộ cùng hành trì và giữ vững Phật Pháp.
Bát bộ này, gọi là Astasena, thường được hiểu có Thiên- Deva (các vị thần trên trời), Long- Naga (các loại rồng dưới biển), Dạ Xoa- Yaksa (các nhiên thần dũng kiện trù phú), Càn thát bà- Ganharva (các thần âm nhạc, y học, trẻ con), A tu la- Asura (các giống loài quỷ quái hung dữ), Ca lầu la- Garuda (các thần điểu, người chim vĩ đại), Khẩn na la- Kimara (các nghệ sĩ người ngựa ca múa) và Ma hầu la đà- Mahoraga (các loại rắn, mãng xà, người rắn biểu diễn âm nhạc). Nói chung, Bát Bộ Chúng đã xuất hiện từ xa xưa trong đạo Phật, khi Saka Nyorai- Như Lai Cổ Phật lần đầu tiên thuyết giảng Kinh Liên Hoa trên đỉnh Linh Thứu. Nghe Phật giảng đạo, tất cả các loài trên trời dưới đất đều tới phủ phục và nguyện bảo hộ Phật Pháp. Bát Bộ cũng xuất hiện một lần nữa khi Shaka Gautama- Đức Phật hiện tại nhập Niết Bàn tại rừng Sa La. Do vậy, ở các đền chùa xưa nay đều thấy các tượng Hộ Pháp này, lập thành nhiều vòng quanh chùa hay điện Phật.
Ở Bắc, Trung, Nam nước ta, trước cổng chùa, bao giờ cũng có hai bức tượng hoặc tranh khổng lồ của hai vị thần dữ dằn, thường nhe răng, bạnh mắt, há miệng gầm rống, nhìn xoáy vào mọi người, như thể thấy ta đang nghĩ gì, nhất là những ý nghĩ tăm tối và rồi sẽ vung đao trừng phạt. Tuy hình tướng đáng sợ, nhưng đây là hai minh vương nhân từ, hóa thân của Bồ Tát Kim Cương Thủ và Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi nhằm dẹp bỏ những ác tính, tà niệm, giữ cho tâm hồn chúng sinh được thanh thản, sạch trong trước khi vào chùa. Với thân hình đồ sộ, cứng hơn đồng thép và vũ khí bất bại là cây chùy kim cương, Bồ Tát Kim Cương Thủ sẵn sàng đứng chắn và đánh tan tất cả mê muội, dục vọng, những điều tàn ác, xấu xa có thể ảnh hưởng đến chúng sinh, đặc biệt là những người tu hành Phật giáo. Theo kinh Phóng Quang Bát Nhã, bất cứ ai tu thiền trên đường thành Phật đều được ngài bảo vệ, không bị phá hoại, nhũng nhiễu dù đó là người hay ma. Với trí tuệ bao la, thị hiện trong nhiều tay chân, đầu mắt, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi lại cho người xem thấy được ma quỷ, cái chết khủng khiếp như thế nào, mà răn ta đừng làm những điều tội lỗi…Cũng có nơi đặt tượng Vi Đà Bồ Tát và Tiêu Diệu Đại Sĩ (Hoá thân của Quan Âm Bồ Tát) với ý nghĩa tương tự.
Cùng hai minh vương, về bốn phía hoặc tượng trưng cho bốn phương trời, còn có Tứ Đại Thiên Vương, canh giữ các hướng đông- tây, nam, bắc Phật điện. Họ chính là bốn đại thần dưới chân núi Tu Di, theo dõi cả cõi trời dục giới lẫn sắc giới, và đều là hóa thân của Bồ Tát Kim Cương thủ, vị Bồ Tát cổ xưa nhất, uy phong nhất Phật giáo Đại Thừa. Bốn ngài là Trì Quốc Thiên, có thân trắng, tay cầm đàn, trấn ở phương Đông với vai trò bảo vệ sự an lành của nhân gian và hàng ngày gảy đàn giúp tâm trí chúng sinh bình yên, đồng thời dùng âm nhạc cảm hóa họ quy y Phật Pháp; Quảng Mục Thiên, có thân đỏ, tay cầm rồng, tay cầm ngọc, trấn ở phương Tây, dùng thiên nhãn nhìn được mọi thứ nên vừa bảo hộ Phật Pháp vừa đem lại mưa thuận gió hòa và những điều ước viên mãn nơi trần thế; Tăng Trưởng Thiên, có thân xanh, tay cầm gươm, trấn ở phương Nam, thúc đẩy vạn vật phát triển song chém đứt vô minh, chăm sóc từng đức tính tốt ở người và Đa Văn Thiên, có thân vàng, tay cầm cờ/ lọng, tay cầm tháp hoặc chuột phun ra châu ngọc, trấn ở phương Bắc, nghe được từ xa mà hiện lên ban phát tài lộc. Cả bốn ngài đều mặc giáp trụ, đứng hiên ngang, hùng dũng, và còn có tên Kim cương đại lực sĩ, nhờ thân thế cường tráng, rắn chắc, bất hoại.
.
Về hai phía của Tòa Tam Bảo, còn thấy Bát Bộ Kim Cang, cũng là tượng Hộ Pháp, cầm trên tay những cây chùy kim cương đa dạng, thể hiện cho mưa gió, sấm sét và quyền năng hộ thế, trừ bạo. Trong tám vị, có ba vị mặt trắng trông rất hiền từ- nhân hậu và năm vị mặt đỏ cực kỳ dữ dằn, phẫn nộ và tượng trưng của việc khuyến thiện lẫn trừng ác trong Phật giáo. Tám ngài cũng là tám vị đại Bồ Tát chuyển hóa, tựu chung là Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Thế Âm, Kim Cương Thủ, Hư Không Tạng, Địa Tạng, Di Lặc và Trừ Cái Chướng Bồ Tát. Ai nấy đều mình đồng da sắt, mặc áo nhẫn nhục, giáp phục tùy hình để kiên cường chống lại tham, sân- si, chinh phục mọi khó khăn, khổ ải. Trong dân gian, tám ngài thường được gọi là Thanh Trừ Tai, Tích Độc Thần, Hoàng Tùy Cầu, Bạch Tịnh Thủy, Xích Thanh Hỏa, Định Trừ Tai, Tử Hiền Thần và Đại Thần Lực Kim Cang. Tám ngài cũng được xây dựng trên hình ảnh của Bát Bộ Chúng, chỉ muôn loài hiền dữ trong thế giới và tùy vào sự thức tỉnh, tu hành mà ngộ đạo. Bát Bộ Kim Cang luôn kết hợp với Ông Thiện, Ông Ác hay Thái tử Thiện hữu và Thái tử Ác hữu đứng ở hai bên Phật đường nhằm khuyến thiện, trừ ác, hộ trì chúng sinh tu tập và ngăn cản tà ma, quỷ quái xâm phạm.
Một Hộ Pháp nữa, song được nhắc nhiều về mặt ban phú quý, là Quỷ Dạ Xoa – những tinh linh dữ dội trong tự nhiên. Vốn dĩ là các thần cây, rừng già hoặc đất và các chiến binh hoang dã, trong đó có kẻ khổng lồ ăn thịt tươi, đi lại trấn động, nhưng sau khi nghe Như Lai Cổ Phật thuyết giảng, nhiều vị đã quy y và đấu tranh với những quỷ thần khác nhằm bảo vệ Phật Pháp. Nhiều ngôi chùa xưa nay đều nằm trên thân thể Dạ Xoa, như một cách nói ví von về sự tọa lạc và trấn áp ma quái. Kỳ thực, Dạ Xoa hung dữ thì cũng hung dữ, song hiền lành thì cũng hiền lành, và hơn cả còn là chủ của các vùng đất, kho báu mênh mông, đảm bảo một cuộc sống an vui dài lâu. Trong đạo Phật, chúng quỷ này nằm dưới trướng của Tứ Đại Thiên Vương và giữ trọng trách coi sóc các cánh rừng, làng mạc dưới chân núi. Họ cũng là người phò trợ Như Lai Dược Sư, cùng Ngài chế ra các bài thuốc chữa bệnh. Tuy có dung mạo xấu xí, song Dạ Xoa rất giàu có và luôn mang theo rất nhiều vàng bạc, châu ngọc. Đa Văn Thiên Vương hay Tài Bảo Thiên Vương chính là một Dạ Xoa chúa, và luôn đem tới cho trần thế của cải dư thừa, vì thế ngài thường được thờ phụng muôn nơi như một tài thần. Ở các đền chùa, Dạ Xoa thường hiện lên trong các tranh vẽ, phù điêu hoặc đứng thành tượng trước cửa, và không nhất thiết lúc nào cũng phải gớm ghiếc, họ nhiều khi cũng rất xinh đẹp, dưới dạng 12 thiên binh dũng mãnh
Cùng các thần tướng ở trong, ngoài chùa cũng có nhiều linh thú bảo hộ Phật Pháp, mà nổi bật nhất là long (rồng) và tại nhiều nơi là rắn thần. Chúng được xem là người bảo vệ kinh văn, nên ở các tàng thư- kinh các đều có hình chúng, ngoài ra với tác dụng phun nước, bay lượn linh hoạt còn được dân gian dùng để chữa cháy. Có đến năm loại rồng từ hắc long, bạch long, thanh long, hồng long tới hoàng long đều trông giữ Phật Pháp từ ngoài cổng đến trong điện, quanh các cây cột, rầm xà, mái chùa. Trong Phật giáo, các thần long Hộ Pháp đều là long vương và thể hiện cho sự khai trí, truyền đạo khắp bốn biển. Rắn thần cũng canh giữ đền chùa, song còn là một loài vật xa xưa nhất từ trong thần thoại đã du nhập Phật giáo, bảo vệ Đức Phật cùng giáo lý của Phật. Theo Kinh Đại Hội, khi được Phật cứu vớt trước loài chim lớn Garuda, loài rắn Naga đã nguyện theo Phật và bảo vệ Ngài. Theo Kinh Tiểu Bộ, có một cơn bão rất lớn, mưa như trút, ập xuống nơi Phật đang thiền định, nhưng một xà vương bỗng nhiên xuất hiện, nhô mình lên cao, lấy mang che cho Phật. Trong Phật giáo, Naga không có chân và cánh như rồng nhưng có rất nhiều đầu và lướt đi vun vút, lại ở được trong thâm sơn cùng cốc, ao hồ, biển cả nên tại đâu cũng có thể hoằng dương Phật Pháp, và vì gần gũi đời thường, rắn thần thường ở ngay trước cổng, trên các bậc thang dẫn vào Phật đường, cùng nhiều tranh vẽ Đức Phật tại các đền chùa Nam Bộ cùng nhiều quốc gia Đông Nam Á.
Thần điểu hay người điểu cánh vàng cũng là một linh thú Hộ Pháp cực kỳ quan trọng. Nhờ to lớn khổng lồ, mỗi khi vỗ cánh che khuất mặt trời, làm mặt đất rung chuyển, thân còn tỏa ra kim quang, gây lóa mắt muôn loài, và rất dữ tợn đã từng giao đấu với nhiều thần linh. Khi Như Lai Cổ Phật giảng Kinh Liên Hoa, thần điểu đã tới nghe, và lúc không còn được ăn rắn nữa, nó đã tới diện kiến Phật, được Ngài khuyên quy y và trở thành Hộ Pháp, được bay lượn khắp bầu trời, ăn các bữa cơm chay và đậu trên đỉnh Linh Sơn. Ở nước ta, Phật tử thường gọi thần điểu là chim đại bàng cánh vàng, song tại nhiều quốc gia trong khu vực đây là nhân điểu, tức người có đầu chim- cánh chim, trên cổ đeo nhiều xâu rắn thần, cho thấy kích thước phải lớn lắm, và được chuyên trách canh gác Linh Sơn và các cõi trời khỏi quỷ quái, cũng như làm vật cưỡi cho Bất Không Thành Tựu Phật. Ở ngoài đời, thần điểu cũng được bố trí trước cổng, cột mái chùa Khmer Nam Bộ.
Sư tử bắt đầu có mặt, làm Hộ Pháp trong Phật giáo từ cách đây 2.300 năm, nhờ phát uy lực xua đuổi ma tà, quỷ dữ vì là mãnh thú dữ tợn- chúa tể của muôn loài và có tiếng gầm vang khiến quỷ thần kính sợ. Tiếng gầm của sư tử được xem là biểu tượng của Phật Pháp lan truyền tam giới và của sức mạnh hàng yêu trấn ma, cũng như việc tạo nên sự bình yên, tĩnh lặng trên trần thế. Theo Kinh Phật, khi Đức Phật giảng đạo, bốn chú sư tử ở bốn phía Phật đã gầm vang, truyền lời dạy của Ngài vang xa. Vừa bảo vệ Phật Pháp, sư tử cũng là vật cưỡi của nhiều vị Phật, Bồ Tát. Trước cổng chùa, do vậy cũng thấy tượng sư tử, và ở miền Bắc, miền Trung Việt Nam là tượng con nghê, một biến thể của sư tử vui nhộn, đặc biệt là trong lễ hội Phật giáo luôn có màn múa sư, nghê hết sức linh thiêng, rộn ràng.
