Nói tới đất nước Đông Phi Kenya là nói tới những cảnh sắc thiên nhiên vô cùng tươi đẹp. Ấy là những bãi cát trắng trải dài tít tắp bên bờ Ấn Độ Dương, những vùng hồ mênh mang, mát rượi trong đó có hồ Victoria, những đồng cỏ xanh bao la savannah, nơi từng đàn sư tử, báo đốm, linh dương rượt đuổi nhau… Song Kenya cũng là nơi sinh sống của nhiều dân tộc – bộ lạc mà những phong tục khác lạ của họ làm ta sửng sốt.
Ở đây, có tới 42 nhóm dân tộc, mỗi nhóm lại chia ra thành nhiều thị tộc hay bộ lạc với những nếp sống văn hóa riêng, nhưng đại thể có hai nhóm tiêu biểu sau: Nhóm Nilotes gồm người Maasai, Kalenjin, Luo, Turkana và Samburu… Họ vốn là những thợ săn và chiến binh rất gan dạ do đất đai của họ có rất nhiều loài thú và trên cả Kenya là 25 nghìn loài, tuy không cạnh tranh về con mồi, song họ lại ganh nhau về lãnh thổ, thành thử thường hay gây chiến. Hôm nay, đa số mọi người đã đi làm nông, chăn nuôi du mục để kiếm cái ăn ổn định cũng như bảo vệ sinh thái. Nhóm Bantu, cũng là cộng đồng người lớn nhất ở Kenya, từ rất lâu cũng là chiến binh nhưng đến giờ chủ yếu trồng trọt, mà nổi bật là người Kikuyu, Kisii, Mijikenda, Luhya và Meru… Cùng với canh tác nông nghiệp, họ cũng rất giỏi làm thủ công, trang trí nhà cửa và làm đẹp.
Trong các dân tộc thì người Maasai luôn thu hút được sự chú ý nhiều nhất, đầu tiên là vì trang phục màu đỏ rực rỡ của họ và giống như một cái chăn vắt ngang lưng, cổ của họ cũng đeo vòng sặc sỡ kết bằng muôn thứ hạt, còn tóc thì thắt lọn, đuôi sam nhỏ xíu với nam giới và cạo trọc lốc với nữ giới. Thứ hai là ai cũng cao như cái sào, lại hay cầm gậy để lùa trâu bò và nếu ngày xưa là giáo mác nhọn hoắt, dùi cui chắc nịch nhằm tấn công từ xa. Cao tới hơn 1,8 mét, cá biệt 2 mét song họ lại ở trong những ngôi nhà đất cực thấp, phải cúi mình lom khom mới chui lọt. Nhà của họ có hình dạng y như một ổ bánh mỳ với lối vào hình móc câu, để tránh thú dữ xâm nhập. Bên ngoài cùng có một hàng rào dây gai hình tròn Enkang giúp phòng vệ, đồng thời là chỗ nuôi nhốt gia súc. Sở dĩ như vậy là để chủ nhà tránh nắng nóng, cũng vì tại Kenya rất khan hiếm đá gỗ, sắt thép. Ai nấy chỉ cần lấy những que quẽ, cành cây nhỏ buộc thành cái vòm và đắp đất lên trên là được một túp lều. Mỗi gia đình thường sử dụng từ vài tới một chục cái Enkang, với cuộc sống xoay quanh đàn gia súc nuôi ở chính giữa do chúng là nước uống (sữa tươi), thức ăn (thịt bò), mành bạt (da, lông) và tiền của khi bán, trao đổi.
Xưa kia, săn được con vật gì, cả nhà sống nhờ con vật ấy, song từ thời gian trở lại đây, chủ yếu họ sống bằng chăn nuôi gia súc, dẫn các đàn trâu bò đi rất xa tới các thung lũng, hồ nước để gặm cỏ nhiều ngày mới về. Vì phải lang thang tùy theo đàn bò, dê nên nam giới cũng không quan tâm lắm tới việc ăn ở, dọc đường thường dựng tạm những căn lều đất nhanh nhất có thể. Sẵn có củi, bùn, phân bò, nước lã, họ nhào nặn nên một nơi ở mà không hiểu sao rất mát, không bị ruồi muỗi quấy nhiễu. Ai cũng có một tinh thần tự lập rất cao và được bắt đầu từ lễ Moran với việc bị bỏ rơi từ nhỏ độ bảy, tám tuổi giữa đồng cỏ hoang sơ. Các em nhỏ phải tự tìm nước uống, củ quả ăn được, tránh các thú dữ mà lần về nhà. Tất cả để tới khi trưởng thành có thể đi xa lâu dài, một mình xử lý cả một đàn bò đông tới mấy trăm con giữa bao nhiêu sói cầy và chim ăn thịt. Như đã nói rất dễ nhận ra họ, nhất là mục đồng nhờ tấm áo shuka thiên về màu đỏ, trên đó có các sọc kẻ, hoa văn xanh lam, xanh lá và có tác dụng như một dấu hiệu để nhận diện từ xa vì chỉ có người Maasai mới mặc áo đỏ lòe loẹt như thế. Điểm dễ nhận thứ hai là những cái vòng cổ bằng hạt, ở nam giới thường là những vòng đơn xâu chuỗi quanh cổ, song ở nữ giới còn có những vòng kép, gắn với nhau làm thành một cái đai to sụ như một cái đĩa trên cổ, mỗi nấc có một màu, họa tiết trong đó có hình thoi- kim cương biểu thị cho sự tinh tế, mạnh mẽ, kiên cường của người Maasai. Dữ dằn với sư tử, ngày xưa muốn được làng xóm chứng nhận là đã lớn khôn, trai tráng phải đi săn bằng được trong một tháng một con sư tử, song họ lại rất dịu dàng với nhau, nhìn xa cứ như cô gái yểu điệu và cũng dịu dàng với vợ, con cháu và đặc biệt là cả gia súc. Kể từ khi biết chăm nuôi gia súc, họ coi trâu bò là quà tặng của trời dành riêng cho mình với niềm tin rằng có một linh thần (Enkai) đã tạo ra muôn giống trâu bò trên thế giới và giao cho họ chăm sóc. Tuy nhiên, thỉnh thoảng họ vẫn uống máu bò, dê, lừa và xem đây là một việc làm vinh dự như uống lấy sự trường sinh bất tử vậy !. Khi phụ nữ sinh con hay một cậu bé làm lễ cắt bao quy đầu, họ lại tìm tới những nhà vừa được mổ thịt bò để xin máu.
Ngoài cưng bò, nam nữ Maasai rất cưng trẻ con, xem đó là tài lộc của cha mẹ và đẻ rất nhiều con mà không hề cần biết tới kế hoạch hóa gia đình. Nhiều khi người chồng còn không biết mặt con vì anh phải đi xa nhà. Vắng chồng, người vợ làm hết mọi việc, đặc biệt còn biết xây dựng. Phần lớn những túp lều của người Maasai đều do phụ nữ làm. Tùy sức khỏe, vật liệu sẵn có, các chị có thể dựng những căn inkajijik có từ hai buồng trở lên hoặc vài túp lều kiên cố. Họ cũng dệt vải, đan lát và làm ra tất thảy các loại vòng cổ, vòng tay, vòng chân, buộc tóc hay buộc vũ khí, vật dụng và chỉ chờ chồng về liền trang trí cho chồng. Sau đó hai vợ chồng nhảy múa trong bài ca Olaranyani cực kỳ vui nhộn. Riêng với nam giới, khi cần giải trí thì họ đóng giả tiếng bò, xem ai giống nhất, đa thanh nhất. Cũng hay nhảy cao, nhiều khi tới hai, ba mét và là điệu múa adamu để chứng tỏ sức mạnh và sự duyên dánh thu hút bạn gái. Ai nhảy càng cao, nhiều lần trong một phút càng được chú ý. Nam giới cũng hay đấu gậy nhằm kiểm tra sự khéo léo và can đảm, người nào bị đánh mà không kêu đau mới là hảo háo- chiến binh. Không xem trọng cái chết, nên chiến binh Maasai đi biệt tín cũng không sao, và khi nhà có người qua đời, họ thường không chôn cất mà đặt ngoài bụi cây cho thú táng.
Người Kalenjin cũng từng là những chiến binh anh dũng. Khi quân Anh tới Kenya, họ là một trong các bộ tộc sớm đứng lên chống lại ách thực dân và tới giờ vẫn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương. Thiên phú cho họ có một sức khỏe rất dẻo dai và khả năng chạy siêu tốc, dù rằng chân không dài bằng người Maasai. Phần lớn các vận động viên điền kinh của Kenya đều xuất phát từ bộ lạc này. Chính khả năng chạy nhanh 30, 40 kilômét trong vòng 1,5 tới 2 tiếng đã giúp họ nhanh nhẹn truyền tin và ứng phó kịp thời. Hôm nay, mọi người đã làm nông nghiệp vừa trồng ngô, vừa chăn thả. Từ sữa bò lên men mirsik, họ đã tạo được một thức uống không những giải khát mà còn tăng cường thể chất, giúp chạy nhanh. Nam giới Kalenjin thường lấy khá nhiều vợ. Song vợ hai hay vợ ba đều không phải do anh quyết định mà do vợ cả. Nếu chị không có con, chị được phép tìm vợ hai cho chồng để người này chịu trách nhiệm sinh đẻ. Và nếu vợ hai cũng không có con thì tiếp tục lựa một cô gái khác. Cả nhà cùng sống hạnh phúc trong một nhà tranh có hình tròn để đi lại dễ dàng, bớt va chạm.
Bộ lạc Luo lại sống chủ yếu bằng nghề đánh cá, và coi những ai không ăn cá không là người Luo. Ít khi bất đồng trong cách cư xử, song họ rất ưa nói khoác, có lẽ là để vui, với khiếu hài hước trong đó. Thay vì cắt bao quy đầu cho nam nhi, họ chỉ nhổ sáu chiếc răng cửa ở hàm dưới của mỗi bé nam 10 tuổi. Ai nấy đều sống rất tình cảm bằng chứng là khi một nhà có tang cả làng kéo tới khóc. Nhà không có người khóc nổi thì thuê kẻ khóc hộ, làm cho buổi tiễn đưa thật bùi ngùi. Khác với người Maasai, người Luo chôn cất thân quyến rất chu đáo. Trước đó góa phụ sẽ ngủ cùng phòng với chồng quá cố vài ngày cho đến khi đem chôn. Bà làm vậy để có một đêm cuối cùng mơ về ông, đồng thời làm lễ tận nghĩa để sau này được tái hôn. Tái hôn nhanh hay muộn là tùy vào bà đã gặp người mới hay chưa. Em gái, em trai Luo thường không lấy chồng, lấy vợ trước anh chị nhằm giữ cho anh chị có vị trí, sự tôn trọng nhất định, nên khi quá lứa lỡ thì cha mẹ thường ép duyên con hoặc nhờ người mai mối cho bằng được vì thế những nhà có nhiều con gái luôn phải tìm rể từ sớm.
.
Được tiếng là trang điểm đẹp, đa dạng là bộ lạc Kikuyu bởi ai cũng bôi mặt, vẽ mình, đeo vòng, đội mũ lông, mặc áo da và cầm nhiều vũ khí uy nghi. Dường như họ muốn biến mình thành các vị thần mà vị thần tối cao nhất là Ngai ngự trên đỉnh Kenya, ngọn núi được lấy tên đặt cho quốc gia. Cũng làm nông nghiệp, hay trồng cà phê xuất khẩu, song người Kikuyu chỉ uống trà, có lẽ nhằm thanh nhiệt do họ đóng nhiều quần áo quá. Nam giới Kikuyu cũng được lấy nhiều vợ, muốn bao nhiêu cũng được, miễn là nuôi nổi. Tuy nhiên, phụ nữ thường hay nắm quyền trong nhà, có người chung thủy, có người không chung thủy. Những hôm về nhà thấy bóng “người lạ”, thông thường người chồng sẽ phải xông vào, đánh cho kẻ ấy một trận, song ở đây anh bơ như không, mà chỉ ho hắng vài tiếng hay gây động từ xa để bóng dáng đó biến mất, và vào nhà vẫn vui vẻ với vợ. Phụ nữ Kikuyu tuy chấp nhận chồng đa thê, song rất ghét chồng lười và nếu anh nào lười quá, không biết làm việc sẽ không chịu lấy. Do vậy, nam giới Kikuyu rất siêng năng và ham tài. Người ta nói rằng, khi một người Kikuyu sắp chết, nghe ai nói về tiền, đều cố nhổm dậy để xem là tiền của ai, rồi căn dặn chuyện phân chia tài sản ràng mạch, rõ ràng rồi mới xuôi tay.
Do đã chuyển sang làm nông, mỗi gia đình Kisii đều tập trung rất đông trong một mái nhà, với nam giới là trụ cột ra nhiều quyết định quan trọng. Song họ khá mê tín dù chỉ thờ tổ tiên và thượng thần Engoro. Họ hay tin rằng có ai đó đang ngầm hại mình nên thường cúng tế, nhờ thầy phù thủy trừ tà. Vì cả vùng trồng chuối nên nhà ai cũng dùng chuối, cúng chuối. Họ cũng có đầu óc buôn bán và không kém người Kikuyu trong việc đầu tư. Đây cũng là dân tộc rất khéo léo trong làm thủ công mỹ nghệ, sản vật nổi tiếng của họ là những bức tượng đá chigware đặc tả từng con người cùng các sinh hoạt độc đáo. Hiền song hơi cố chấp, tuy được lấy đa thê song nam giới Kisii tuyệt đối không lấy ai chưa làm lễ cắt âm vật. 8, 9 tuổi các em gái đã phải làm lễ này còn 10 tuổi tới nam nhi.
Mijikenda là một tộc người đông nhất ở Kenya, cũng có ngôn ngữ sinh động nhất. Do giao lưu với thương nhân Ả Rập, Ba Tư, từ cách đây hàng trăm năm, họ đã có văn hóa Swahili mà tiếng Swahili là công cụ thúc đẩy phát triển. Dù có 68 thổ ngữ song quốc ngữ ở Kenya vẫn là tiếng Swahili. Nam nữ dân tộc này ăn mặc rất trang nhã, gọn gàng. Nam thường quấn một tấm xanh hoặc trắng quanh eo, vắt ngang người một dải dây đỏ còn nữ thì mặc nửa thân trên màu trắng, nửa thân dưới màu đỏ. Chỉ có hai màu đối lập, lúc đỏ lúc vàng với trắng thế thôi mà ai nấy đều gây ấn tượng vì sự thanh thoát, khỏe mạnh. Họ càng mạnh mẽ hơn trong lòng du khách khi kiên quyết bảo vệ các kaya là những ngôi làng cổ truyền cũng là nơi thờ tự lâu đời. Tại đây, các già làng sẽ làm các lễ hiến tế cầu mưa, con cái, hạnh phúc, bình an và sức khỏe cho từng người. Mỗi ngôi làng thường có diện tích từ 10 tới 900 héc ta và để bảo vệ làng, người dân vẫn dùng bùa và tên, gậy gộc. Tựu chung, mọi người đều sống trong các huyền thoại về cội nguồn và những hoài niệm quá khứ vinh quang, nên mỗi ngày ở các kaya là một ngày náo nhiệt với các tiệc tùng, trong đó có món wali, cơm, canh, sữa dừa, cá tôm, thịt thà, sau đó ai nấy cùng chung vui trong điệu múa Sumanga.
