Các loại chữ viết và thứ tiếng hiện nay
Trong lịch sử loài người, có mấy phát minh được xem là vĩ đại nhất, đầu tiên là việc tìm ra lửa, biết nhóm lửa để nướng thịt hay các loại rau, cá sống từ đó con người mới tách khỏi cuộc sống bầy đàn hoang dã. Thứ hai là tạo nên chữ viết có thể ghi chép được các hiện tượng tự nhiên như khí hậu – thời tiết, các cuộc săn mồi, hái lượm để truyền thụ kinh nghiệm lâu đời. Thứ ba là phát minh ra áo quần và nhà cửa nhằm hộ thân, có nơi trú ngụ không sợ nóng lạnh, thú dữ và dễ nhận ra nhau qua những dấu hiệu trên thân thể. Có thể nói sau việc tìm ra lửa thì chữ viết là một phát minh quan trọng nhất giúp con người tinh khôn, có kiến thức khác hoàn toàn loài vật. Cho đến nay, chữ viết vẫn đóng vai trò tối cao trong các hoạt động của nhân loại. Hiện giờ đã có 800 loại chữ viết phổ biến khắp thế giới.
Vào khoảng thiên niên kỷ thứ tư trước Công nguyên (trCN), ở Iran người xưa đã chế được những vật nhỏ bằng sét để chỉ cho những thứ mà họ tiếp xúc hàng ngày, lập tiền đề của chữ viết, ví dụ như một vật hình lưỡi liềm với những vạch sổ song song trên bề mặt là ngụ ý về một mẩu sắt, hoặc một vật hình tròn có một dấu cộng ở giữa là một con cừu… Chữ viết đã có một bước nhảy vọt từ năm 3.200 trCN khi người Sumer lấy một cọng sậy và vẽ hình của các vật này lên trên những phiến sét nhão, tạo nên dạng chữ nêm, chữ viết đầu tiên của thế giới. Chữ nêm sau này đã được dùng trong 15 thứ tiếng suốt ba nghìn năm.
Chữ tượng hình Ai Cập tại đền thờ
Tại Ai Cập từ năm 3.200 trCN đến năm 394 cũng xuất hiện chữ tượng hình là những hình vẽ mang tính biểu tượng, mỗi biểu tượng ám chỉ một sự kiện và được ghi bằng một âm. Tương tự, ở thung lũng Indus thuộc Pakistan ngày nay từ năm 2.800 – 1.900 trCN đã có chữ triện, và người dân thuộc nền văn minh Harappa đã dùng những đồ vật in chữ triện như một loại giấy tùy thân hoặc một thẻ mua bán. Ở Trung Quốc, vào đời Thương từ năm 1.200 trCN, cũng có chữ viết trên xương và mai rùa hay giáp cốt, rồi xuất hiện chữ triện, chữ thảo và tới nay là chữ hiện đại. Ở Địa Trung Hải từ năm 1.050 trCN ra đời chữ Hebrew và chữ Arab. Tại châu Mỹ từ năm 250 tới 900, cũng thấy chữ tượng hình của nền văn minh Maya, được khắc trên đá và gỗ bên trong các hình vuông hoặc bầu dục.
Thư pháp Hy Lạp
Từ những chữ đơn lẻ, người xưa đã cố gắng hệ thống chúng tạo thành hệ chữ hay các bảng chữ cái. Từ Trung Đông, khái niệm biểu tượng hay tượng âm đã lan khắp thế giới, và phát triển đầu tiên ở Hy Lạp. Người Hy Lạp đã biến chúng thành những chủ âm viết được. Sau đó người La Mã bắt chước tạo nên chữ La tinh vào thế kỷ sáu trCN để thành bảng chữ cái mà nhiều nước hiện nay vẫn dùng. Riêng Trung Quốc vẫn giữ nguyên hệ chữ viết, mỗi chữ là một từ một nghĩa, khi ghép lại có nghĩa khác song vẫn là sự cắt nghĩa từ các chữ rời rạc, ví dụ chữ mộc nghĩa là một cái cây, khi ghép ba chữ mộc ba cái cây sẽ có chữ lâm nghĩa là rừng. Trong quá khứ, các vị vua ghép ba chữ mộc ba cái cây sẽ có chữ lâm nghĩa là rừng. Trong quá khứ, các vị vua nói chung gồm cả Trung Quốc luôn phải dùng chữ viết để liên kết quốc gia. Vào thế kỷ ba trCN, do lãnh thổ rộng lớn dân cư sống cách biệt, người Trung Quốc nói tới tám thứ tiếng và thổ ngữ, chỉ đến khi có sự thống nhất vào năm 200 trước Công nguyên thì mới đạt chuẩn và cùng đọc một hệ chữ.
Do hiện tượng đồng âm và tính biểu cảm mà chữ viết nhiều khi dẫn tới các xung đột. Hãng giày Nike đã từng in thương hiệu chữ Air lên trên giày song vì chữ này đồng âm với từ chỉ vị thánh Allah của người Hồi Giáo nên bị chống đối quyết liệt và đã phải rút loạt sản phẩm đó khỏi thị trường.
Suốt hơn 5.000 năm phát triển, chữ viết luôn gắn liền với sự ghi chép. Đầu tiên là trên mảnh đất nung, đá, xương, lá, vỏ cây, sợi tơ, giấy da, vải, giấy viết, và giờ là màn hình điện tử. Nhờ hoạt động viết có tới 85% dân số thế giới biết chữ. Trong các chất liệu, giấy vẫn là phương tiện tối ưu để ghi chữ viết, do dễ gập dễ đút trong túi, và xem lại nhiều lần. Các đền thờ là nơi lưu giữ chữ cổ lâu nhất và có những cuốn kinh văn cho biết về những chữ cổ, trong đó cuốn kinh Torah, một trong năm cuốn kinh thánh của Moses, được xem là một cuốn sách đầu tiên của nhân loại.
Góp phần gìn giữ chữ viết cho nhiều thế hệ, là các nhà chép sách. Ở xã hội nào cũng có nhà chép sách, những người được học chữ, nhiều người như ở Địa Trung Hải xuất phát từ tầng lớp quý tộc, ngược lại ở Hy Lạp chỉ là nô lệ, kẻ hầu trong các gia đình giàu có và được cho ăn học. Đến tận thế kỷ 20, tại nhiều nước người dân vẫn còn mù chữ, và người chép sách chính là những người ghi lại những câu chuyện trong cuộc sống, làm nghề viết thư hộ, làm thầy giáo của người nghèo và thủ thư của thời đại. Hiểu được lễ giáo nên khi chép sách, họ phải tuân theo nhiều quy định, và đặc biệt khi chép lại các cuốn kinh phải tuân theo điều luật của nhà cầm quyền. Ví dụ để chép được cuốn kinh Torah phải tuân theo hàng trăm điều luật và khoảng thời gian chép trong vòng một năm, ngay cả khi cất những cuốn kinh cũng phải cử hành nghi lễ rất trang trọng.
Từ khi có chữ viết, con người đã chế ngự được sự cô đơn. Nghiên cứu hiện nay cho thấy khi viết hay đọc có thể giảm trầm cảm, tăng cường sức lực và hạ đường huyết. Viết giúp mọi người vui sống, khi viết phải tập trung suy nghĩ, sắp xếp thành các đoạn có ý nghĩa, do đó là cách động não hiệu quả nhất. Không dừng lại ở việc viết, mỗi người, mỗi dân tộc cũng luôn cố gắng thể hiện những nét chữ của mình thật đẹp, từ đó hình thành nên nghệ thuật viết chữ đẹp và hơn thế là thư pháp – một kiểu chữ đẹp nhất, có tính giải trí cao. Khác với chữ thường, thư pháp có quy tắc viết song cũng tùy theo thẩm mỹ và sự kỳ công của tác giả mà biến hóa đa dạng. Nói chung, để có chữ đẹp, mềm mại từ xưa người ta đã phải viết nắn nót, tính toán kích cỡ và khoảng cách giữa các chữ và dòng sao thật hài hòa, tự nhiên. Thuở đầu làm việc này phần lớn là những nhà quý tộc, vua chúa có nhiều thời gian chấp bút và điều kiện vật chất để tìm kiếm những loại mực, bút và giấy phục vụ nghệ thuật. Bằng những phong thái khác nhau, họ đã tạo nên các kiểu chữ và quy ước có giá trị lớn lao đến nay vẫn được tiếp thu và phát huy.
Thư pháp Ả Rập
Hiện nay, thế giới đã phân loại có ba dạng thư pháp tiêu biểu là thư pháp Ả Rập, thư pháp Á Đông và thư pháp phương Tây. Thư pháp Ả Rập là kiểu chữ đẹp thuộc ngôn ngữ Ả Rập, và là một trong hai hình thức biểu đạt đẹp và thiêng liêng nhất của nghệ thuật Hồi giáo gồm vẽ tranh và viết chữ trên tường, vòm, trần nhà thờ đồng thời là cầu nối giữa người dân với đạo Hồi. Người ta thường trích dẫn các đoạn kinh Koran hoặc câu nói thánh nhân để viết thành một bức tranh chữ nghệ thuật. Bức tranh này có thể tồn tại độc lập như một tác phẩm hoàn chỉnh.
Thư pháp Á Đông là kiểu chữ đẹp ở các ngôn ngữ chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, gồm Hanzi Trung Quốc, Hanja Hàn Quốc, Kanji Nhật Bản và Hán tự Việt Nam… Ở Trung Quốc, nó được gọi là Shufa, Hàn Quốc Seoye, Nhật Bản Shodo và Việt Nam thư pháp. Thư pháp Á Đông thường chỉ là một phân trong một bức tranh vẽ theo phong cách hội hoạ cổ Trung Hoa. Ở đó, hoạ sĩ vẽ tranh rồi đề một số từ ngữ hoặc thơ ca với ý nghĩa chữ làm đẹp thêm cho tranh và chữ cũng là một bức tranh (thư hoạ đồng nhất thể).
Thư pháp phương Tây là kiểu chữ đẹp dùng bảng chữ cái La Mã, xuất phát từ ngôn ngữ của người Hy Lạp, La Mã vùng Phoenica và Etrusca. Lúc đầu đây là những chữ cái minh hoạ, trang trí ở đầu các trang sách, đặc biệt là kinh thánh, sau đó được tách biệt thành chữ nghệ thuật. Kiểu chữ nhìn chung rõ ràng, đủ nét, đủ dấu, cân xứng, vuông thành sắc cạnh.
Thư pháp Á Đông
Ở thư pháp Ả Rập và Á Đông, người viết phải dùng những cây bút long thật mềm, chấm mực tàu (đen hoặc nhiều màu) để viết lên những tờ giấy trắng, lụa trắng khổ to và bằng một trong năm kiểu chữ là chân, triện, lệ, hành và thảo. Sau đó đóng dấu đỏ chấm mực đỏ vào một góc của thư tác. Phải cầm bút viết với tốc độ và lực tỳ như thế nào cho chữ viết ra không bị nhoè. Khi viết, thường viết liền mạch nhưng cử chỉ lại khoan thai, chậm rãi.
Ở thư pháp phương Tây, người viết dùng bút sắt có đầu cứng nên chữ hiếm khi nhoè. Con chữ thường rời rạc và ngay ngắn, được thực hiện nhờ thước kẻ và compa xoay vẽ các góc cạnh.
Thư pháp Hán Việt
Tại Việt Nam, có hai loại thư pháp là thư pháp Hán-Nôm và thư pháp quốc ngữ hay thư pháp chữ Việt. Do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trong gần một nghìn năm Bắc thuộc, một thời các nho gia nước ta đã dùng chữ Hán và chữ Nôm để viết cũng như sáng tác thư pháp. Đến nay vẫn còn nhiều người giỏi chữ Hán – Nôm tiếp tục theo đuổi thư pháp Hán – Nôm. Thư pháp chữ Việt chỉ mới ra đời cách đây mấy chục năm, nhờ một số họa sĩ viết chữ quốc ngữ lên tranh theo dạng thư pháp Hán – Nôm và hiện nay đã soạn được năm kiểu chữ cho thư pháp chữ Việt là chữ chân phương giống chữ thường, rõ nét, dễ đọc; chữ biến tự đã uốn éo, nghiêng ngả chú trọng đến vẻ đẹp hơn là rõ nghĩa; chữ cuồng thảo là chữ phóng tác và gần như đã biến đổi hoàn toàn so với chữ gốc, trên đó có thêm những nét kỳ dị, câu ngoắc, khó đọc; chữ mô phỏng là chữ bắt chước kiểu chữ nước ngoài và chữ mộc bản có dạng in khắc như con dấu.
Viết thư pháp tới nay vẫn là một thú chơi sang quý. Để chuyên tâm vào viết và luyện chữ, ở mỗi nước các nhà thư pháp đều có một phòng riêng dành cho thư pháp. Trong phòng đặt một bộ bàn dài thâm thấp cho người ngồi viết, cá biệt là đứng viết. Trên sắp các cuộn giấy hoặc lụa, pho mực khô, khay mực, bút, chặn giấy và con dấu… Cuộn giấy là hình hài của bức thư pháp gồm bốn dạng: hình chữ nhật dọc (trục đường), hình chữ nhật ngang (hoành phi), hình vuông (đấu phương) và hình rẻ quạt (phiến diện). Pho mực là một mực thỏi in hình hoa, chim, chóc màu đen hoặc nhiều màu. Khay mực là một khay bằng gỗ, đá hoặc nhựa có hình tròn, hình chữ nhật hoặc đa giác cũng in hoa và có lòng trũng để pha mực, ngoài ra có một mặt bằng đặt thỏi mực chưa mài hết. Bút là các loại cây viết ngắn hoặc dài, buộc túm lông se nhọn ở đầu. Chặn giấy là vật nặng có hình chim thú, hoa và cá được dùng để đặt lên cuộn giấy sau khi đã trải phẳng cho khỏi bay hoặc không xê dịch khi người viết tỳ tay chắp bút. Con dấu là vật duy nhất in tên, chữ ký của nhà thư pháp chấm mực đỏ để đóng vào góc thư tác, khi nhìn vào đây người xem có thể biết được tác phẩm của ai,… Tường phòng thường dành nhiều chỗ trống treo tranh, và góc phòng đặt bàn tiếp khách. Nếu như ngày xưa khi sáng tác, các nghệ sĩ thường ngồi liền trong phòng nhiều ngày, ăn uống đều do gia đình chu toàn, khi khách đến thì mời vào tận phòng đàm đạo.
Khi đánh giá một thư tác, người ta dựa theo khá nhiều yếu tố như đường nét, bố cục, hồn phách của chữ cũng như ý nghĩa và các sự kiện, sự tích được đề cập trong tác phẩm. Ngoài ra là nghiên cứu tư tưởng, phong cách sống, văn hóa của người viết. Mỗi tác phẩm cũng phải tuân theo một số nguyên tắc, như: Không thụt đầu dòng; các hàng đều và dài bằng nhau; không viết chữ thành một hàng; khoảng trống hàng cuối không dài quá nửa chiều dài các hàng, không dùng dấu chấm câu. Khi đóng dấu cũng tuân theo ba vị trí sau: Nhân chương – dấu ở bên phải, phía trên thư tác. Yêu chương – dấu ở thắt lưng thư tác. Danh chương – dấu ở phía dưới bên trái thư tác. Ngoài ra có thể tuân theo quy ước của thư pháp Việt: Toàn triện – nếu người viết đồng thời là tác giả của chữ, ý thơ hoặc tác giả của chữ hữu ý là thơ văn cổ không rõ tác giả thì đóng dấu ở phía dưới, bên phải và có thể đóng thêm một dấu treo ở phía trên bên trái. Bán triện – nếu tác giả của chữ nhưng ý thơ của tác giả khác mà chưa được sự đồng ý ý thì đóng dấu của tác giả chữ phía dưới bên phải sau đó bên trái ghi tên tác giả thơ, rồi ghi từ thủ bút/viết. Đồng triện – nếu tác giả chữ và ý thơ của người khác đã được đồng thuận thì đóng dấu ở phía dưới bên phải và để tên tác giả thơ trên cao bên trái, rồi ghi thủ bút/viết. Ngoại triện – nếu không được như trên vẫn có thể đóng dấu ở vị trí khác song phải ghi cụ thể về tác giả thơ.
