Với người Ấn Độ, âm nhạc luôn là thức ăn của tâm hồn, biểu trưng cho vẻ đẹp, sự đa dạng- huyền bí của cuộc sống và đặc biệt có ba nhạc cụ đã tạo nên những dòng nhạc tuyệt vời, có tính chất khai thiên lập địa, sinh ra vạn vật cùng những chuyển động, nhịp điệu trong vũ trụ. Đó là trống Damaru- nhạc cụ gõ của thần Shiva, đàn Veena- nhạc cụ gảy của nữ thần Saraswati và sáo Bansuri- nhạc cụ thổi của thần Krishna. Theo văn hóa bản địa, đây là ba nhạc khí thần đã có từ thuở sơ khai và được thần linh lựa chọn vừa làm công cụ giải trí vừa làm phương tiện xây dựng hình hài sự sống, thổi hồn vào sự sống. Đồ rằng, với Damaru trong tay, thần Shiva đã nhảy múa tưng bừng, dựng nên các thế giới mà theo tiếng nhạc lan tỏa, những dải thiên hà cũng lần lượt ra đời, uốn lượn phiêu bồng. Mỗi nốt nhạc có thể nói hóa thành sông núi, cây cỏ, người vật do đó người Ấn Độ, ai cũng có nhịp hay tài nhảy múa, ca hát, biểu diễn. Ba nhạc cụ ấy chính là ba phần không thể thiếu của âm nhạc cổ điển, gồm có giai điệu, nhịp điệu và cách diễn đạt hấp dẫn. Hiện tại, ở Ấn Độ, có đến hơn 1.500 loại nhạc cụ song đều được xem là bắt nguồn từ ba nhạc khí nguyên thủy trên, mà nói rộng ra là ba thế giới âm thanh đầu tiên.
Trong Hindu giáo, người xưa tin rằng, thần Shiva khi gõ Damaru đã tạo ra Nada, âm thanh phát khởi ra trời đất, có thể hiểu như là tiếng nổ của một vụ nổ Big bang lớn vang dội giữa hư vô. Cùng tiếng trống hừng hực, đại thần Mahadev bắt đầu điệu nhảy sáng tạo Tandava, mà qua đó vũ trụ xoay vần với muôn vàn năng lượng tác động lẫn nhau. Điệu nhảy của ngài được đặt trong một vầng hào quang rực lửa và Mahadev có bốn tay, cầm ở tay phải giơ lên cao một cái trống hai mặt có ý nghĩa chính là trái tim, nhịp đập của sự sống trong khi tay trái hạ xuống thấp nắm một ngọn lửa ba chẽ nhằm nhào nặn hình hài của thế giới, đốt cháy những gì dư thừa, xấu xí và với bàn tay phải phía dưới làm cử chỉ Abhaya Mudra xoa dịp nỗi sợ hãi. Tại sao thần Shiva phải làm thủ ấn này?- Vì thần vừa là đấng sáng tạo vừa là đấng hủy diệt, trong tín ngưỡng dân gian là đấng toàn năng Isvara. Khi Damaru vang lên, sự ròn rã, ấm áp của nó sẽ dậy lên niềm vui, khỏa lấp nỗi đau song cũng xua tan điều dữ, sự ác liệt làm ma quỷ khiếp sợ. Tiếng trống Nada trong âm nhạc được hiểu là các thanh âm rộn ràng- náo nức, còn trong văn chương là các ngôn ngữ, thứ tiếng đa sắc và sâu xa hơn nữa là sự hiểu biết, tri thức về muôn sự do trước khi có Nada, vũ trụ đầy những tăm tối, vô minh. Damaru, Nada, Tandava vì vậy là cội nguồn của tất thảy những sáng tạo, suy nghĩ giúp con người nảy sinh thi hứng. Theo truyền thống, Panini, nhà ngữ pháp học Sanskrit vĩ đại, tác giả của Kinh Maheshwara với các quy tắc cơ bản trong ngữ pháp tiếng Phạn, đã tạo được hệ thống ngữ pháp này sau khi ông mơ thấy Nataraja (thần Shiva) đang nhảy múa trước mắt và nghe những thanh âm dồn vang mà ngài tạo ra cùng Damaru. Những âm thanh đó cũng có tác dụng thanh lọc môi trường, cân bằng năng lượng, đánh thức tâm linh và qua nhịp điệu nhịp nhàng mang tới một trạng thái thiền định, cho ta kết nối được với nội tâm để vượt qua ý thức trần tục.
Đại thể, Damaru là một cái trống hình đồng hồ cát, hai đầu căng da dê, ở eo thắt dây dai mà tại hai đầu dây gắn hạt gỗ. Nó khá nhỏ, chỉ cao độ hai chục phân, nặng chừng ba lạng nên khi chơi dễ dàng cầm nắm, phất trống bằng một tay mà cụ thể là vặn cổ tay rung lắc, khiến hai dây đánh vào mặt trống. Damaru có tính biểu tượng rất cao, như hình đồng hồ cát là tượng trưng cho vũ trụ giãn nở- thu hẹp, đồng thời là tính đối lập, tương tác của sự sáng tạo lẫn hủy diệt trong khi tay cầm thể hiện cho sự thống nhất giữa hai bên cùng tồn tại. Hai khối tam giác hay hình thắt đáy giữa trống đại diện cho tâm trí và cơ thể mỗi người, còn sợi dây neo giữa là ngụ ý về sự sinh tử song hành. Khi chúng kết hợp với nhau sẽ có vô số sáng tạo nảy sinh, thể hiện trong những âm thanh, lời nói, việc làm và khi chúng tách rời, mọi thứ trở nên bệ rạc, rơi vào im lặng. Khối tam giác hướng lên cũng tượng trưng cho khả năng sinh sản của nam giới (lingam) và khối hướng xuống là khả năng sinh sản của nữ giới (yoni). Về mặt biểu tượng, sự sáng tạo thế giới bắt đầu khi lingam và yoni gặp nhau ở giữa trống và sự hủy diệt xảy ra khi chúng cách xa. Cả sự sống lẫn cái chết của sinh linh cùng hiện hữu ở đây cho thấy cái này là mở đầu của cái kia thật huyền diệu, thú vị và với vũ trụ thì là sự giãn ra, co lại, biến mất rồi tái hiện nhịp nhàng ẩn hiện dưới hình một cái trống trong tay Nataraja.
Để lan truyền sự sống, sự hài hòa và nghệ thuật, bằng cây đàn Veena, nữ thần Saraswati cũng gảy lên những khúc nhạc du dương được coi là những hạt giống của tâm hồn và qua loài chim gieo rải chúng đi muôn nơi. Ngồi duyên dáng giữa núi rừng xanh tươi, nữ thần trí tuệ thi thoảng lại búng dây đàn để những âm thanh ngân nga, trầm bổng chứa nhiều cung bậc cảm xúc rót vào hồn người, nhân lên ở đó tình yêu thiên nhiên, xứ sở và kiến thức. Đặc biệt bên cạnh bà luôn có hai chú chim công và thiên nga, tượng trưng cho đất, nước, lửa, không khí, những yếu tố cần thiết cho sự sinh sôi, phát triển cũng như của sự tao nhã, bác học, sự khác biệt lẫn hòa hợp cùng lắc lư uyển chuyển, khuyến đại âm thanh đẹp đẽ ấy ra ngàn phương. Nữ thần thường được tả cầm đàn Veena, còn gọi là đàn Kachchapi, chín dây, 24 phím bằng tay trái đỡ ở phần trên và tay phải nâng ở phần dưới đàn. Các ngón thứ nhất (ngón trỏ), ngón thứ hai (ngón giữa) của bàn tay trái khe khẽ gảy đàn, trên các dây thanh hay giai điệu trong khi các dây khác gảy bằng ngón út. Tuy nhiên, cũng có tranh, tượng, phù điêu miêu tả khác song tựu chung là một cây đàn có hình dáng gợi cảm như một tiên điểu, một trái lê xinh đẹp đặt ở khoảng cách hơi xa người với đầu đàn dựa nhẹ vào bờ vai còn đáy đàn kê nghiêng lên đùi, hoặc cả nhạc cụ nằm ngang trên hai chân bắt chéo- một thế cân bằng vững chãi.
Dài 1,5 mét, Veena thường được làm từ gỗ mít, lắp ghép nhiều bộ phận khác nhau như tre, dừa, xương, ruột, da, kim loại. Thân đàn hình tròn to, tựa trái lê với cái cổ dày và rộng như cổ chim, phần cuối cổ được chạm đầu rồng Naga trong truyền thuyết. Cách cổ một quãng, mặt dưới có một bộ cộng hưởng nhỏ bằng trái bầu khô được cố định nhờ sáp ong cứng và bột than. Do được hỗn phối, âm thanh của Veena cũng là hợp âm của nhiều thanh sắc và cho các cao độ phong phú, dài rộng đủ ba quãng tám. Là một trong các nhạc cụ dây lâu đời nhất nước, cây đàn được bắt nguồn từ nhạc khí yazh cách đây khoảng 2.500 năm. Sử thi Ramayana và Mahabharata thường khắc họa nữ thần Saraswati và nhiều vị thần tối thượng dùng đàn Veena nên nó rất linh thiêng.
Giống như trống Damaru, đàn Veena cũng chứa đựng nhiều biểu tượng. Cả cây đàn là một vũ trụ mênh mông, siêu hình nhiều tầng lớp, một đời sống văn hóa tinh thần giàu tình cảm trong đó những dây đàn chính là những cung bậc cảm xúc khó tả và chốt đàn là khả năng tư duy khéo léo, điều khiển mọi thứ cho tiếp cận với trí tuệ. Đặc biệt đầu rồng yali của Veene còn thể hiện cho lòng dũng cảm, mưu trí và chiến thắng trước cái ác. Nói cách khác, Veena là hình ảnh của một con người muốn chế ngự thế giới, cũng làm đẹp thế giới bằng lời ca, điệu đàn và cho mọi sự được đồng điệu, hòa hợp với nhau, dù đó là thứ gì để cùng phát triển, vươn lên.
Ngoài mang tới một cảm giác yên bình, thoát tục, thần Krishna cùng tiếng sáo véo von của ngài cũng gợi lên ở muôn loài tình yêu thương và sự lĩnh hội nhạy bén trước tri thức. Là một vị thần được ca tụng nhiều nhất trong văn học nghệ thuật, Krishna thường hiện lên như một thanh niên trẻ trung, có làn da xanh thẳm và đi cùng một cây sáo, một sợi lông công ở trên đầu. Lúc nào, ngài cũng thổi sáo Bansuri cho những âm thanh trong trẻo, vui tai, thu hút muôn loài, hướng dẫn mọi người đi theo con đường Bhakti Yoga sống thật đơn giản, thuần khiết để thấy thần tiên trong những khía cạnh đời thường. Nghe tiếng sáo của ngài, ai nấy lòng dạ thanh thản, vô tư, có sự trắc ẩn, yêu thương và tái sinh.
Có đến ba loại sáo Bansuri đều được tôn thần dùng là Venu, Murali và Vamsi trong đó Venu là sáo trúc sáu lỗ, dài chừng 55,5 phân, với mỗi lỗ tượng trưng cho một luân xa Chakra và lỗ đầu tiên thể hiện cho thành tựu hay hoa sen nghìn cánh Sahasrachakra, và bằng việc thổi sáo, Chúa tể tối cao, vị thần của lòng trắc ẩn đánh thức thế giới nội tâm, mở ra những chiều sâu bí mật của tâm hồn, giải phóng người nghe thoát khỏi mọi ràng buộc sinh lão buồn khổ. Cây sáo của ngài tựa như một cây gậy thần cho ta tình yêu sự sống, trước những công việc nhỏ nhất hàng ngày và tìm được ở đó sự rung động. Tại đâu, cũng thấy thần tình yêu, tuổi trẻ, hạnh phúc, cũng thấy sự tự do, tự tại và giải thoát. Vì Bansuri chính là biểu tượng của sự tự do Pranava với âm thanh làm rung động bất cứ ai một cách thích thú và truyền sự sống, niềm vui vào trong người ấy. Tiếng sáo chính là sự say mê, yêu mến của thần thánh vào trong mọi sinh vật và tình yêu ấy còn làm sống dậy cả những vật thể vô tri.
Về cơ bản, Bansuri có ý nghĩa như một trái tim của thế giới lẫn người mà mỗi lỗ sáo là cách xả đi những âu lo, hờn giận cho thể trí được sạch trong, siêu thoát; tâm hồn trần tục nhờ thế bay được tới chốn thiên đàng, bất tử. Không chỉ con người bất tử, con vật, cây cối… dưới tiếng sáo réo rắt, cao vút, tươi vui cũng bất tử. Cùng với việc mang đến tình yêu trong sáng, sáo Bansuri còn kết hợp với lông công trong vai trò của một cái đầu hay con mắt nhằm nhận thức về sự thật, chân lý, nhấn mạnh đến việc có con tim cũng cần phải có trí óc và âm nhạc bao giờ cũng được thẩm định qua sự hiểu biết. Bản thân Bansuri cũng đã cho ra đầy tri thức khi những dòng nhạc tuôn chảy miên man, ca ngợi thiên nhiên đất nước, con người, thần tiên.
Cả ba nhạc khí Damaru, Veena và Bansuri hay bộ ba nhạc cụ cổ đại Ấn Độ đều tạo nên những giai điệu cực lôi cuốn, được xem là thứ âm nhạc chỉ thần linh, đặc biệt là đấng tối cao chí thượng mới làm nổi. Trong khái niệm triết học Ân Độ, âm nhạc hay Nada chính là biểu hiện của Đại ngã Brahman, và những âm thanh từ đây hay Nadabrahman là những âm thanh siêu việt- hạt giống của mọi sự sáng tạo. Vì sự cao quý, thiêng liêng, dân gian luôn chơi nhạc trong các nghi lễ mà những tiếng trống được gióng lên đầu tiên tại các đền thờ, những âm thanh khác sau đó được diễn tấu để dâng lên thần linh.
