Trong vương quốc hoa quê, có một loài hoa hết sức dung dị, sống nương vào con nước, gắn nình với những buổi nổi trôi, tan hợp. Mặc dù chịu nhiều đợt sóng va đập, thường xuyên phải lang thang song cây vẫn nở hoa điềm nhiên tự tại, chỉ một cọng cũng đủ làm đẹp xinh dòng nước và nếu vạn nhành có thể tô thắm cảnh quê. Cây cũng đóng góp không nhỏ trong đời sống dân gian thường nhật, làm thức ăn, thuốc chữa bệnh, nguyên liệu sản xuất, sinh vật cảnh… túc trực quanh xóm làng, trên ao hồ, sông ngòi như một phần vẻ đẹp quê hương, và từ một loài hoa dại đã trở thành hoa được nhiều người yêu mến nhất, ấy là bèo lục bình.
Ngoài tự nhiên có nhiều giống bèo lục bình, đáng kể là loại cong to cao chừng 40 xentimét, rễ dài cứng khỏe có thể trụ vững tương đối ổn định ở một chỗ và cọng nhỏ cao khoảng 10 xentimét, rễ ngắn, mảnh yếu, liên tục bị sóng xô đẩy. Cả hai đều có lá đơn, tròn đầu xanh mướt, cuống lá phình to, nhẹ xốp nổi dập dềnh. Cây sinh sản vô tính, chỉ trong một tuần đã dễ dàng phân tách thành hàng chục cây non. Từng đám đan dầy, khi có sóng đánh mạnh thì tan rã, khi nước lặng lại nhập vào kín mít.
Mùa xuân, lục bình đã nở hoa nhưng rộ nhất là hè thu, khi những trảng bèo cùng ra hoa đồng loạt. Mỗi cây có từ một đến hai chùm hoa, với mỗi chùm chín đến 12 bông trổ dọc trên một cọng dài thẳng đứng. Bông hoa có sáu cánh tím hồng, riêng cánh ở giữa điểm thêm mảng xanh lam và một chấm vàng tươi, ẩn dưới lớp cánh là sáu nhụy dài chúm chím.
Hiếm có loài hoa nào độc đáo bằng lục bình. Hoa vừa trôi vừa nở. Chỉ cần gió nhẹ, lực đẩy là hoa đu theo sóng tới bất cứ đâu. Đến thì là nở, bông này kế tiếp bông kia. Lục bình sống dựa vào nước. Chỗ nào có nước cây đều mọc tốt hơn thế còn hòa nhập vào sự biến thiên của dòng chảy, dùng chính sức mạnh của nước làm nội lực, đẩy đưa bèo con phát tán che phủ khắp bề mặt sông hồ. Nước dâng lục bình dâng, nước rút lục bình rút. Ngay cả khi nước cạn tới đáy, cây vẫn sống, rễ tiến triển thành sợi cứng đâm được xuống dưới lớp bùn ẩm ướt. Như bầy đàn quấn quýt, chở che những đám bèo hợp thành một khối cùng sinh cùng diệt. Đáp lại, lục bình cũng cho dòng nước mầu sắc. Bình thường nước đục là thế, khi có lục bình nước trong hơn, mặt nước xanh thêm nhờ mầu lá xanh và tím lên nhờ hoa.
Không chỉ vượt trên phong ba, giữ mình trường tồn lục bình còn cho mặt sóng vẻ bình yên, tĩnh lặng. Vào mùa hoa, những ngả đường quê nhiều khi không thấy gì khác ngoài lục bình. Cảm nhận đầu tiên với du khách là một con nước đầy vơi, huyền bí. Kế đó là sự tỉnh khôi, thuần khiết. Ngoi lên từ chốn lầy bùn song chùm hoa bèo luôn ngát thơm, mỗi cánh như ánh mắt ngây thơ trìu mến ngước nhìn du khách trong khi vẫn khiêm nhường, e ấp ẩn hiện dưới những cánh lá mơ màng. Vì nét đẹp dịu dàng ấy ai cũng yêu quý thương cánh lục bình.
Hoặc như vẻ sinh động, đầy ắp. Quanh lục bình luôn thấy những con tôm, cua đánh càng nhả bọt, những chú chuồn chuồn chao lên lượn xuống và thỉnh thoảng một con chim đâu xa đánh tũm xuống ao bèo cắp ngang một con cá bự. Cũng có lúc những vạt lục bình gợi lên trong lòng người nỗi u hoài với nhiều tâm sự, khi gặp cảnh sông dài, trời nước chơi vơi thấy mình nhỏ bé, cô đơn.
Quen với đồng chua nước lợ, quanh năm bùn lầy lặn lội, dân quê rất mực yêu mến lục bình. Nhiều người thường đặt tên cho con cháu là bình. Mong con gái tên Bình sẽ có cuộc sống thuận hòa, sung sướng, lớn lên dịu dàng, thùy mị và con trai tên Bình cũng lập được nhiều kỳ tích vẻ vang. Từ hình ảnh thân bèo thắt đáy lưng ong và nổi trôi, dân gian xem lục bình là biểu tượng đông đúc, trù phú; sự tiêu dao, tự do tự tại và cảnh sống an nhàn. Do cây không rời nước và có hoa tím, lục bình cũng là biểu tượng của lòng chung thủy, chờ đợi.
Ở nông thôn, lục bình là một trong những hoa cỏ gần gũi nhất với tuổi thơ. Hồi bé, ai cũng có lần được chơi hoa lục bình. Những buổi chăn trâu cắt cỏ, tan học, đi chợ ngang qua đồng ruộng, ao hồ đều lội nước hoặc với tay hái đóa lục bình chơi. Mùa hè, trời nóng trẻ quê thường vớt cọng bèo lên bờ đắp làm tấm đệm chạy nhảy và nằm nghỉ. Đệm lá lục bình to mập, xốp mềm, mướt mát khi áp vào làn da thật êm ái, sảng khoái. Bọn trẻ cũng thường đóng lục bình làm phao bơi. Chỉ cột vài cọng to, hai, ba đứa đã có thể đu đưa thỏa thích.
Trai gái sau buổi làm đồng, gánh lúa, cấy cày đều nghỉ chân bên bờ nước, rửa tay, trêu đùa, tức cảnh buông lời thề hẹn, lấy hoa bèo tím tặng nhau làm kỷ vật yêu đương. Với những nỗi niềm thầm kín, không ít người nhìn hoa ra ngẩn vào ngơ: Người về em vẫn trông theo/ Trông nước nước chảy trông bèo bèo trôi/ Người về em dặn tái hồi (Dân ca Quan họ).
Tận dụng cây cỏ, dân quê đều dùng lục bình làm thức ăn chăn nuôi. Nhà nào có ao bèo hay ở cạnh sông hồ, cứ cách vài ngày đợi bèo mọc đầy lại đi thuyền nan, thuyền tôn, thuyền thúng vớt bèo đem về băm, nấu cám. Chỉ cần quơ nhẹ tay bèo đã lọt đầy rổ, thả vào chuồng lợn, gà chúng tranh nhau giằng xé, tiếng nhai bèo lốp bốp vui tai. Những lúc bèo nhiêu, mọi người chất bèo thành đống phơi cho xẹp, oải thành phân xanh sau đó gánh ra lót ruộng.
Xưa kia, vì nghèo đói và bởi thân bèo non, hoa bèo ngọt mát ăn được, người dân ở nhiều nơi đều chế biến lục bình làm món ăn. Buổi chiến tranh, cơm gạo rau dưa đều thiếu, nhà nào cũng luộc một mâm lớn lục bình chấm mắm. Cha mẹ, con cái ngồi gắp đùa hoặc bốc tay những cuộng hoa đưa lên miệng, vừa ăn vừa tấm tắc. Ông bà nhìn con cháu băm bèo, nấu cám lại thầm mơ tới một ngày sung túc, ấm no.
Ngày nay, một số vùng vẫn duy trì được các món lục bình. Những buổi mò cua, bắt ốc người quê vẫn tiện tay hái mấy nhánh lục bình về nấu canh chua. Khi ấy, những con tôm, cua, cá bống tự nhiên từ đâu lẩn vào nằm yên trong bộ rễ dài, chỉ cần nhấc lên bắt cho vào giỏ đem về là được một bữa ra trò. Người ta cắt khúc lục bình rửa thật sạch. Bắc một nồi nước lên bếp lửa đun sôi, nêm gia vị, cho tôm cua cá vào nấu nhừ rồi nhúng qua hoặc thả hẳn nắm lục bình vào nồi mà khuấy và gắp ra bát ăn nóng. Hương lục bình ngai ngái, nồng nồng quyện với vị mắm, muối, tiêu đường thơm phức.
Ngoài món ngon, dân gian cũng dùng lục bình làm thuốc chữa trị nhiều căn bệnh như viêm tấy, đau họng, nhức xương, mỏi cơ, giun sán, mất ngủ… Hoặc luộc, nấu lục bình ăn nóng hoặc giã tươi lấy chất xơ tẩm muối đem đắp lên phần cơ thể đang bệnh, chỉ mươi phút đã thấy hiệu quả. Dân quê còn thả lục bình xuống ao hồ, giếng làng cho nước thanh sạch, và lấy chỗ trú ẩn bảo vệ cá tôm khỏi chết cóng vào những ngày mưa… Nhiều nơi cũng dùng cọng lục bình khô đan thành đồ thủ công mỹ nghệ, như giỏ xách, giầy dép, tranh, mền… và biến những đồng bãi lục bình thành địa điểm du lịch. Khi qua đây vào những buổi trưa hay chiều tà, thấy cảnh vật đẹp rực rỡ như một bức tranh thêu.
Vì lục bình gần gũi với cảnh lam lũ, nhọc nhằn nên nhìn những cọng bèo hoa tím lênh đênh, phiêu dạt nhiều người lại sống dậy những hồi ức, kỷ niệm chốn quê nhà. Với dáng bà dáng mẹ rạp mình trên chiếc thuyền con vớt bèo về nuôi đàn gà lợn: dáng cha dáng anh lom khom cất vó, đơm cá mang về nấu bữa cơm canh. Hoặc mùi hương nồng nàn của đất những buổi chị đi cấy cầy, giặt giũ nơi giếng chùa. Những âm thanh trưa nhàn em ngồi băm bèo lạch cạch tiếng dao gõ vào lòng thớt vang khắp gian nhà gian bếp… Với nhiều người xa xứ, mỗi lúc thấy cánh lục bình trôi dạt lại nặng lòng thương nhớ quê hương. Muốn vớt lên ngắm nghía, hít hà hương vị đặc trưng của đất, sóng nước, hoa quê.
