Đất nước ta có nhiều sông ngòi, vào mùa mưa nước dâng cao thường gây lụt lội, cuốn trôi nhà cửa, ruộng vườn. Từ xưa, dân gian đã biết đắp đê ngăn lũ, mỗi làng quê đều có những con đê bao quanh. Hiện toàn quốc có khoảng năm nghìn kilômét đê. Đây không chỉ là công trình dân sinh mà còn là một hình tượng đi vào văn học nghệ thuật, phong tục tập quán như một nét đẹp quê hương. Những con đê làng thường bằng đất, kè đá, có nơi đổ bê tông, đóng cọc. Hai sườn cỏ mọc xanh rờn, nhiều khi là những tràng hoa dại rực rỡ.
Từ ngàn đời, đê làng đã gắn bó mật thiết với sông quê. Dù có những điểm đối lập như sông thì mềm mại, biến động, dữ tợn; đê lại cứng nhắc, an định, hiền lành song chúng luôn ở cạnh nhau. Tuy sông mang đến dòng nước là yếu tố tạo nguồn sự sống, giao thông và các tài nguyên quý giá nhưng chính sông khi nước dữ cũng tàn phá, hủy diệt sự sống nên đê đã ra đời để ngăn chặn nước dữ, bao bọc che chắn giúp mọi sinh linh tồn tại và phát triển. Điều thú vị ở đê là dẫu nước mạnh tới đâu, sức quậy phá thế nào, nhưng đến chân để đều khựng lại, nước dâng cao cũng không thể vượt qua thành đê. Hình ảnh đê do đó thường được nhìn nhận như hình ảnh thu nhỏ của dãy núi mà Sơn Tinh đã dùng để chặn đứng cơn lũ và bầy thủy quái của Thủy Tinh trong câu chuyện cổ tích. Không những bao quanh sông, đê còn nắn dòng, dẫn dắt dòng nước chảy về một hướng ra biển. Nhờ thế mà sông luôn tràn trề, những nhánh nhỏ được hội tụ và không bị đất khô nuốt chửng.
Là công trình kiên cố song đê làng cũng phải chịu nhiều tác động hư hoại. Thời chiến tranh, do những cuộc công phá thân và mặt đê luôn bị bầm nát thành những hố đạn bom, và thời bình các phương tiện trọng tải nặng cũng để lại trên đê những hố lõm như ổ gà, ổ lợn. Chứng kiến bao sự đổi thay, dầm dề dù già cỗi, xạm rỗ đê vẫn như người cha, người anh dằn mình che đỡ thôn xóm khỏi những cơn mưa lũ, ngập mặn, ngoại xâm.
Nhờ đê làng bảo vệ, dân quê mới có cuộc sống thanh bình, no ấm, có những đồng lúa mênh mông cò bay thẳng cánh với những bông lúa vàng trĩu hạt, những mảnh vườn xanh tốt, những đàn gia súc, gia cầm đông đúc, những ngôi nhà ngói đỏ khang trang… Hàng năm, làng cũng có những ngày hội, đám cưới, mừng thọ, các sự kiện văn hóa nghệ thuật tươi vui. Vì đóng góp ấy, tiếng Việt có rất nhiều từ ngữ về đê như chân đê, vệ đê, vạt đê, sườn đê, triền đê, đoạn đê, khúc đê, dải đê, con đê, cái đê, đường đê, đê quai, đê bao… cùng nhiều tác phẩm văn chương ca ngợi đê.
Cũng có năm, do nước sông quá to vì mưa bão liên miên áp thấp, vì đê bị mối xông hay địa trấn, ở một số nơi đê bị vỡ, nước sông tràn qua gây hậu quả nghiêm trọng. Dòng nước phá tan mọi thứ, cây cối bị bật gốc, nhà cửa vỡ vụn, trâu bò lợn gà chết trương, những đồng lúa rau màu ngập úng. Khắp nơi là rác rưởi, thây xác nổi lềnh phềnh, bốc mùi. Không dừng ở đó, khi nước rút thiệt hại do lũ còn kéo dài nhiều năm gây đói kém, bệnh tật, thất nghiệp, khiến người dân không có chỗ ở.
Để tránh điều đó, hàng năm mỗi địa phương đều tu bổ đê và tập đối phó trước sự cố như vỡ đê, rạn chân đê, mối xông,… Những lúc ấy, trống thúc liên hồi, mọi người đổ ra đê, người quai búa đóng cọc, kẻ vác bao đất hoặc bê những tảng đá rời, những khối bê tông kè lại đoạn đê yếu, ai cũng ngập mình trong nước quyết tâm lấy sức người bám giữ thay đê. Khi chân đê chắc, thành đê rắn, mới thôi lo lắng. Do đời sống nông nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào thời tiết, khí hậu an hòa mới thành công, trong khi sống gần sông, nhất là mùa mưa bão nguy cơ nhiều, nên nghe tin đài báo có mưa to, gió lớn nhiều người lại thấp thỏm, ai cũng xác định vỡ đê là vỡ cả làng. Vào mùa lũ, khoảng chừng tháng tám, nước dữ dội nhất, nhiều đoạn đê mỏng manh bị kéo giật, táp, vỗ lúc nào cũng có nguy cơ sụp lún, dân làng luôn phải cử người túc trực ở trạm canh đê, và chia dọc thân đê thành nhiều điểm canh với khẩu hiệu hộ đê.
Không hiểu sao người quê hay liên hệ cây tre với con đê. Có thể vì tre luôn mọc cao thành rặng và nhiều khi chạy dài mãi, tre còn chịu được nắng lửa, mưa dầm mà vẫn xanh tươi. Đó như là một biểu tượng của vòng tay che chở, thành đồng lũy thép vì sự ấm êm, an lạc. Đê cũng vậy là công trình to lớn do con người tạo ra nhằm chống lại thiên tai. Đê vừng vàng sẽ ngăn được những trận lụt lội, những cơn thủy triều xâm mặn. Và để gia cố cho đê, hai triền đề luôn có những hàng tre. Bản thân cấu tạo của chân đê cũng bằng những cọc tre đóng.
Ngoài tự nhiên, những con đê luôn nằm ở vị trí cao nhất làng và là một điểm mốc trong bản đồ, phân định giới hạn giữa xóm trên xóm dưới, khu trồng trọt, kênh mương với khu nhà ở, sinh hoạt cùng các tập tục văn hóa tín ngưỡng. Theo kiến trúc truyền thống, mỗi làng thường chia thành năm ngõ nội đê và hai ngõ ngoại đê hình chữ điền hướng ra sông. Nơi đất cao ráo dân ở, nơi đất trũng thấp trồng lúa, dựng lán nuôi trâu bò cho ăn uống, đầm mình tại chỗ. Là vật che chắn, đê cũng đồng thời là con đường chính ra vào làng, một ngày không biết có bao nhiêu người dân, khách bộ hành qua lại. Tuy có khúc cong, khúc thẳng, chạy dài và thường cách nhà dân mấy quãng đồng song nói đến con đê là người nghe đều biết nó ở đâu, vị trí rõ ràng, cứ đi theo đường ấy, lối ấy sẽ tới. Trong văn hóa, đê làng là trung điểm giữa xa và gần; nhà quê và tỉnh lỵ, gia đình và xã hội, sự kín đáo thùy mị và sự hở hang đùa cợt, vẻ tĩnh lặng an lành và cái náo động bất ổn. Ngoài đê là những điều mới lạ, người không quen biết, trong đê là những điều quen thuộc, thân quyến, họ hàng. Khi một người ra khỏi đê, người ấy sẽ không còn được làng bảo vệ, phải tự tung, tự tác. Với một số người cũng đồng nghĩa sẽ không còn bị ràng buộc bởi các tục lệ làng nữa, khi một người xa rời tổ ấm, con đê những người ở lại đều lo lắng không biết người ấy sau này còn mạnh khỏe, chung thủy, giữ gìn được nét đẹp quê mùa.
Ở những con đê nối liền một dải, làng nối làng, vùng nối vùng có cảm giác đi không bao giờ hết, hoặc như đoạn đê sườn dốc đến nỗi lúc đi xuống người như bị rớt rơi, leo lên như bị vật gì đè nặng khó cất bước, thì đó như là một chặng đường cuộc đời, đầy gian nan thử thác đòi hỏi tính nhẫn nại, cẩn trọng.
Vì đê luôn phải chịu va đập, dãi dầu nên nói về nó là nói đến sự cực khổ. Những lúc mưa bão ra thăm, mặc dù đoạn đê vẫn vững vàng, nhưng sao lòng vẫn thấy yếu ớt, mong manh. Do ở xa, dàn trải đê cũng đồng nghĩa với sự trống trải, mông quạnh. Mượn ý này, nhiều người có câu nói: Cẩn thận kẻo ra đê mà ở, ám chỉ ai đó đang ở hoàn cảnh kiệt quệ, nghèo túng, không nơi bấu víu.
Nằm đầu làng, là con đường huyết mạch ai cũng phải qua, chỗ tiễn người đi, đón người về, đê làng coi sóc gần như mọi sinh hoạt văn hóa, sự kiện buồn vui của xóm thôn. Dưới chân đề thường thấy cảnh bến sông, đò thuyền; người dân cấy hái; làng nghề khoe diễu các sản phẩm thủ công. Trên mặt đê cũng thấy cảnh chợ búa, nhà nhà phơi phóng, xe cộ qua lại. Rất hay gặp những em nhỏ lon ton hoặc người lớn đứng ngồi không yên ngóng cha mẹ đi làm đồng, ra chợ hay bạn bè, người thân xa về. Cũng có nhiều người cứ chiều tà lại lên đây hóng mát, ngắm sông trôi, mặt trời lặn, trăng lên hay cảnh tan chợ xôn xao. Riêng hai triền đê là thế giới của trẻ thơ nhờ những bãi rộng không vướng víu, trẻ quê muốn vui chơi gì cũng được. Các em bé chăn trâu thường để đàn trâu bò nhai cỏ trên triền đê, còn mình bỏ đi chơi xa. Học sinh trường làng khi tan học cũng đi tắt từ sườn đê xuống đồng bãi đùa nghịch. Trong các trò chơi trẻ nhỏ hay gặp trò thả diều, đá bóng, trận giả, chọi gà, đá dế, bắt châu chấu, đào khoai nổi lửa nướng chung vui. Đêm trăng thanh, nam nữ trong làng đều rủ nhau ra đê giao lưu, ca hát, trao lời ước hẹn.
Với nhiều người, đi trên những đoạn đê luôn khơi gợi trong lòng những xúc cảm sâu sắc. Buổi sáng khi đê đông người, khắp nơi rộn rã, nắng lên cây lá xanh ngời, cảm thấy vui vẻ, nhẹ bước và con đường như ngắn lại. Song khi chiều về, người thưa, nắng tàn cảnh vật u ám, đây đó côn trùng i i, thỉnh thoảng mới có một bóng người đạp xe ngược chiều lọc xọc hoặc đôi ba khách bộ hành, dáng vẻ loạng choạng liêu xiêu con đường ôi chao lặng buồn, xa xăm.
Đê làng còn có nhiều điểm đặc biệt do ở vị trí cao, rộng. Nắng trên đê vàng rực. Những hôm trời bức, dường như bao lửa mặt trời đều rót xuống đây. Người quê đi chân đất, bàn chân đều bị đỏ phừng. Mưa ở đê trắng xóa, hạt to như hạt lúa, sàn sạt. Gió cũng lộng. Buổi sáng hoặc chiều tối, hai trên đê gió vi vu.
Đứng trên đê có cảm tưởng nghe thấy mọi âm thanh, ngày nắng vang tiếng xe và chân chạy rầm rập, ngày mưa là tiếng ếch uôm, cây cối vặn mình, người người gọi nhau í ới… Những buổi chiều gió đưa những câu hát quan họ, hò, vè, chèo, tuồng, cải lương cất lên từ những đội văn nghệ, vô tuyến, cát xét, lán, trại, tàu thuyền. Cũng thấy cả những mùi vị đặc trưng miền quê, như mùi đất bùn những hôm cấy cày bà con nông dân mang theo bùn non từ ruộng lên dốc. Hay hương lúa chín rạt rào từ những cánh đồng lúa đầu bờ, những gánh gồng kĩu kịt chở lúa về phơi, tuốt hạt. Và khói bếp nhà ai lan tỏa nưng nức vị bánh trái, xôi, chè…
Độc đáo như vậy song đê làng không đứng tách rời mà hòa vào cảnh quê. Vẻ đẹp, sức sống của đê cũng là vẻ đẹp, sức sống của vạn vật. Mỗi mùa, nhờ cỏ hoa và trời đất giao hòa, đê làng khoác một tấm áo mới. Thường là áo xanh. Mùa xuân áo xanh non, mùa hè áo xanh ngắt, mùa thu xanh vàng, mùa đông xanh xám. Cũng có lúc đó là áo đỏ, áo tím, áo vàng. Đây có lẽ là nơi duy nhất hội tụ muôn loài hoa cỏ. Dễ gặp nhất là cỏ may. Kế đó là cỏ mật, trinh nữ, đậu ma, cải, cúc,… nở vàng, trắng, hồng đẹp mê hồn.
Mỗi thời khắc bên đê làng đều cho sự thư thái, bình yên. Khi mỏi mệt sau chặng đường dài, ngang qua một triền đê, lữ khách thường dừng chân ngắm cảnh, không ít người vội chạy tới ngả lưng trên thềm đất, ôm lấy hoa cỏ cho hơi mát, hương thơm thấm vào da thịt, chạnh lòng nhớ tới quê xa.
