Khắp đất nước ta, nơi đâu cũng thấy chợ, lớn thì siêu thị, vừa có trung tâm thương mại và nhỏ là chợ ven đường góc phố. Đặc sắc nhất vẫn là chợ quê gắn liền với sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp. Mọi mặt hàng ở đây đều do người dân các làng tự làm, số lượng ít song giá rẻ và được nhớ mãi bởi hương vị đồng nội.
Chợ quê đã có lâu đời. Làng xã nào cũng có dăm ba cái chợ. Cùng với cây đa, giếng nước, sân đình, chợ là một phần không thể thiếu trong không gian văn hóa làng Việt. Đó là những buổi bán buôn bên dốc đê hay một khoảng đất rộng dưới lũy tre làng, tán đa, gốc gạo, men sông. Người bán bày la liệt tất cả những gì họ có xuống nền đất, sang hơn thì ngồi trong lán cọt kẹt. Vào năm 1293, khi đi sứ nước ta viên quan nhà Nguyên là Trần Phu đã ghi lại cảnh chợ búa của người Việt trong cuốn An Nam tức sự rằng: Trong các xóm làng Việt đều có chợ. Cứ hai ngày họp một phiên, buôn bán hàng trăm thứ. Cách năm dặm lại dựng một cái nhà ba gian lớn, ở bốn phía đặt chõng họp chợ…
Đến nay, chợ quê không chỉ là có chợ làng mà còn cả chợ thôn, chợ ấp, chợ huyện, chợ tỉnh, trong đó chợ làng gần gũi việc đồng áng lam lũ có gì bán đấy và phục vụ tại chỗ nên đậm chất quê mùa; chợ huyện và chợ tỉnh thường đã tây hóa với nhiều loại hàng xa xỉ. Chợ quê luôn tập trung ở ven sông, bên cầu, đình, chùa. Có chợ bán nông sản, cho gia súc gia cầm, chợ hoa quả. Có chợ hàng thủ công mỹ nghệ làng nghề, như chợ Viềng Nam Định chuyên cung ứng nông cụ, đồ kim khí, dao, thuồng và đặc biệt chỉ họp một lần vào nửa đêm mồng bảy rạng sáng mồng tám tháng giêng âm lịch giữa lòng thành phố hoa lệ. Ở đồng bằng sông Cửu Long (Nam Bộ), có chợ nổi dập dềnh, chuyên bán những loại hoa quả, tôm cá.
Buôn bán ở chợ quê đơn thuần chỉ tự cung tự cấp. Của nhà trồng được, làm được thì đem ra trao đổi. Mớ tôm cua vừa bắt ngoài ruộng, mớ rau vừa hái trong vườn, con gà con vịt túm giữa sân, cái rế cái sàng tiện tay đan lát là những thứ sẵn có, nên rất tươi ngon.
Ngày thường, chợ ở các làng đều vắng vẻ song đến ngày phiên hoặc Tết bỗng tưng bừng tấp nập. Người dân các xóm, thậm chí các địa phương khác đều đổ về đây hội họp. Buổi chợ thường diễn ra vào ngày lẻ hoặc chẵn, như ngày 4 và 9, ngày rằm và mồng một. Vì cả tuần mới có một ngày chợ lớn nên ai nấy đều dồn hàng hóa vào chợ phiên: Anh về hái đậu trẩy cà. Để em đi chợ kẻo mà lỡ phiên. Chợ lỡ phiên tốn công thiệt của. Miệng tiếng người cười rỡ sao nên… (Ca dao). Có thứ gì ngon dân làng đều mang ra chợ. Nếu ngày thường việc mua bán chỉ ở vệ đường thì bây giờ tràn ra khắp nẻo khiến đường làng như bị tắc nghẽn bởi dòng người qua lại. Ai chê cứ chê, ai khen cứ khen, ai đi mặc đi, việc tôi cứ mua bán, đường là của kẻ chợ.
Do đồng tiền hạn hẹp, cả người bán lẫn người mua đều lo tính: Chợ quê tính toán lại qua Chắt chiu dành dụm con ta học hành… Nhưng với tính thuần hậu, người quê vẫn ăn nói trân trọng, giữ gìn. Nơi đâu cũng vang vọng những câu chào hỏi lễ phép, tình cảm: Bà đấy à. Vâng, thưa bác. Chị ơi lại em bảo. Dạ, em mời anh cái này!…
Có thể nói chợ quê là một ống kính thu nhỏ mọi hoạt động làng xóm. Chợ là sân chơi của trẻ thơ: Muốn cho gần chợ mà chơi. Gần sông tắm mát gần nơi đi về (Ca dao). Là nơi bạn bè giao lưu, trai gái tìm người thương: Thân em như tấm lụa đào. Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai? (Ca dao). Là chỗ phụ nữ học hỏi nữ công, người già thăm nom họ hàng. Ở chợ, người ta bàn tán đủ chuyện làng nước. Chị tôm cá khi cần nói chuyện dù xa mấy cũng gọi với sang cô hàng thịt. Rồi từ hàng thịt néo sang hàng đậu… Cả chợ như toàn người thân nói chuyện. Chợ cũng là nơi tụ tập những người hát xẩm, ăn xin, cơ nhỡ độ đường, mỗi khi có khách tới là khẩn khoản: Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại. Tôi lỡ trót dại, lâm cảnh bần hàn. Khốn đói cho nên lang thang cầu thực. Nghe mấy lời nỉ non, ai cũng thương đều bớt chút bạc lẻ đem cho.
Nhiều phiên chợ ở Bắc Ninh, người dân ăn mặc rất đẹp. Nhiều người vận áo the, áo tứ thân, đóng khăn xếp, vấn khăn mỏ quạ, cầm nón quai thao đi chợ như trảy hội. Ở miền núi phía Bắc, có những phiên chợ sơn dã lâu ngày mới họp. Do cách trở đường rừng, đây là nơi trao đổi quan trọng của người dân. Chợ ít hàng song rất đông như chợ Bắc Hà (Lào Cai), tập trung một lúc nhiều dân tộc Mông, Dao, Tây, Thái, Hà Nhì… diện thổ cẩm rực rỡ. Hiền như hòn đất, mọi người nách cắp lợn, tay xách can rượu, lưng thồ sắn khoai, nấm măng, rau rừng; người ngồi trên lưng ngựa, người lẽo đẽo sau đuôi trâu bò, đi chợ mà sườn dắt dao, vai đeo thuổng như đi làm đồng. Vì nhiều tháng hoặc cả năm mới gặp mặt, người già thường ngồi hàn huyên hồi lâu, trai gái tranh thủ hò hẹn, rủ nhau ra quãng vắng tâm sự. Mỗi phiên chợ vùng cao do vậy là mỗi phiên chợ tình.
Không khí ở chợ quê luôn sôi động. Có tiếng dao kéo rơi loảng xoảng; tiếng chống bát đũa xô nhau cành cạch; tiếng tôm cua cá nhảy lách tách; tiếng ò ò, ăng ẳng, ộp ạp của súc vật; tiếng cười giòn tan của người bán được hàng, tiếng khóc sụt sịt của người chưa bán được gì và giọng chèo chống của khách chưa ưng hàng nhấc lên lại đặt xuống…
Chợ quê thường họp từ tinh mơ cho đến xế trưa. Vì thế, người quê đều phải dậy sớm. Như một cái đồng hồ, từ khi gà gáy dù trời rét, đau yếu đến mấy họ vẫn phải dậy gánh hàng ra chợ. Đường ngõ bình thường vắng lặng song đến buổi chợ đoạn nào cũng râm ran: Bên chợ Đông Ba tiếng gà co éc (Ca dao). Và khi nắng trưa hửng lên là lúc một bức tranh quê mỹ lệ lộ dần. Trên các ngả đường sẽ bắt gặp những đồng lúa xanh mênh mông, những bụi ruối hàng tre dậu cúc tần rậm rạp, những vườn cây ăn trái sum suê trĩu trịt, những ao hồ sôi tăm cá, những bầy cò trắng chao lượn, những đàn bò trâu ung dung ngặm cỏ, những con gà con lợn luồn lách chạy le te,… Ở một vài bờ bụi, dăm ba đứa trẻ đánh giậm túm tụm, trên quãng đồng làng lác đác vài chàng trai cô gái cợt đùa, dưới các gốc cây cổ thụ, các cụ bà quẩy sọt hàng, đặt quang gánh ngồi nghỉ, phe phẩy chiếc nón quạt mát, tiện thể nhai miếng trầu, uống ngụm nước chè, nhẩm lại chút tiền nho nhỏ, cười tủm tà tủm tỉm.
Giữa chợ rải ra đủ các món ăn dân dã như bánh đúc, bánh kê, bánh gai, bánh chưng, bánh giò, bún ốc, bún riêu, bún thang, canh cá, cà dầm,… người dân vừa bán hàng vừa làm công việc quen thuộc như xay xát, đan lát, thêu thùa. Ở góc chợ luôn sôi nổi các trò chơi thú vị như chọi gà, đấu đế, bắt chạch, nặn tò he… Tan chợ ai nấy vui vẻ, bước chân sáo về nhà. Từ xa, bọn trẻ đã kêu to mẹ, mẹ… anh chị đã về và quấn quýt quanh sọt hàng, ngó mẹ đã bán hết chưa, và cũng mong tìm được trong thúng chút quà bánh nào mà mẹ hoặc anh chị mua cho mình ở chợ.
Từ sinh hoạt chợ búa, dân gian đã có nhiều câu ca, tục ngữ hay về chợ. Đầu tiên là những lời giới thiệu mượt mà: Chợ Chùa một tháng sáu phiên. Mời anh đi chợ thăm miền quê em. Xanh nhất là chị hàng na. Mặn mà hàng muối, ngọt hoa hàng đường. Thơm dịu là chị hàng hương. Tanh tao hàng cá, phô trương hàng vàng….
Chợ Lưu Hoàng một tháng chín phiên Đôi cô hàng xén xe duyên bán hàng. Cô có phèn chua, cánh kiến, vỏ vàng. Dây thau, dây thiếc, dây đàn, lưỡi câu. Cô có gương soi, có lược chải đầu. Hòn son, thoi mực, giấy tàu bày ra. Cô có hoàng cấm, thanh đại chu sa. Cam thảo khổ luyện cùng là hoàng liên. Cô có phẩm xanh, phẩm tím phẩm hường. Thạch xanh cô bán cho phường bát âm. Táo tàu với củ nhân sâm…
Tiếng đồn cá mát sông Giăng. Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Cồn.
Bồng em chị bỏ vào nôi. Cho chị đi chợ mua vôi ăn trầu. Mua vôi chợ Quán chợ Cầu. Mua cam Nam Phố mua trầu chợ Dinh. Chợ Dinh bán áo con trai. Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim…
Ai về chợ Vạn thì về. Chợ Vạn có nghề đặt rượu nuôi heo.
Qua hình ảnh chợ, người xưa cũng muốn nói về những quy luật và lẽ đời: Nào ai cấm chợ ngăn sông. Ngăn qua ngăn lại ngã đông thế này. Chỉ rõ sự tồn tại tất yếu của chợ, cứ có người mua kẻ bán là thành chợ.
Con chó khóc đứng khóc ngồi. Bà ơi, đi chợ mua tôi đồng riềng. Phản ánh suy nghĩ thiếu cái gì cũng phải mua
Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất. Nhấn mạnh tới sự tiện dụng của chợ, chẳng nơi nào nhiều gạo như ở chợ.
Bà già đi chợ Cầu Đông. Xem một quẻ bói lấy chồng lợi chăng? Thấy bói xem quẻ phán rằng: Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn. Phản ánh chợ cũng là nơi có nhiều hoạt động bói toán Và về thực tế trong cuộc sống điều gì cũng có thể xảy ra, việc bà già đi chợ xem bói lấy chồng là rất bình thường, và một buổi chợ giải quyết đượ: rất nhiều việc cho cả trẻ già lớn bé.
Đi chợ thì hay ăn quà Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm. Khắc họa thói quen tạt ngang tạt dọc ở phụ nữ và cũng tỏ rõ ở chợ có nhiều quà bánh.
Chàng buông vạt áo em ra. Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa. Chợ trưa rau sẽ héo khô. Lấy chi để em nuôi mẹ, lấy gì để mà nuôi em… (Dân ca quan họ Bắc Ninh). Cho thấy chợ mau tàn, không nhanh sẽ lỡ chuyện.Hoặc như: Sớm ra giục mẹ giục cha. Chợ trưa dưa héo nghĩ mà buồn tênh. Cũng giống trường hợp trên, song câu ca còn nói lên nỗi lòng của những người bán hàng,
Cô kia đi chợ Hà Đông Để anh kết nghĩa vợ chồng cùng đi…
Chợ trầu em chẳng bán cau. Biết đâu trầu với thắm với cau nhau thế nào. Lá trầu liếc một nhát dao! Nhát dao chết cá dưới ao lông mày… Miêu tả cách tỏ tình của trai gái thật hóm hỉnh.
Trai khôn tìm vợ chợ đông. Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân. Nhắc nhở phụ nữ tài đảm phải là người biết ăn nói khéo léo như đi chợ biết liệu cái gì nên mua không nên mua, giá cả phải chăng. Nam giới giỏi cũng là người biết múa võ chốn trận tiền.
Gái thương chồng đương đông tuổi chợ. Trai thương vợ nắng quái chiều hôm. Nhắn nhủ vợ chồng nên sống với nhau son sắt một lòng.
Bên dưới có sông, bên trên có chợ. Hai đứa mình kết vợ chồng nghen… Thể hiện sông và chợ là biểu tượng của sự đủ đầy và sự tất yếu bên sông luôn có chợ, chợ gần sông cũng như con người có đôi, sẵn sông tiện đường đi, có chợ tiện no bụng.
