EBRU- NHỮNG BÔNG HOA KỲ ẢO TRÊN GIẤY

Bắt đầu từ thời kỳ Ottoman, ở Thổ Nhĩ Kỳ đã có Ebru, một loại giấy mà bạn cũng có thể gọi là tranh được, vì hàm chứa vô số màu sắc- họa tiết, đồng thời biến hóa kỳ diệu dưới bàn tay họa sĩ. Vì sự rực rỡ, độc đáo như vậy, Ebru thường được dành để viết thư pháp, đóng bìa sách- văn kiện và thậm chí cho đến nay, dù đã có máy in hiện đại làm ra nhiều giấy màu sặc sỡ, người ta vẫn chuyên dùng Ebru cho việc trang trí tài liệu.

Vậy Ebru là gì? – Ebru chính là giấy vân đá, được xuất phát từ chữ Ebri, nghĩa là có họa tiết mây khói, và cũng phái sinh từ chữ Abru: nổi dập dềnh, ý chỉ phương pháp tạo tác. Để làm giấy này, các nghệ nhân sẽ cần pha một cái khay dầu, vảy các loại mực, vẽ các họa tiết và đặt một tờ giấy trắng lên đó, để mực thấm vào bề mặt, đợi vài giây thì nhấc ra, phơi khô. Lúc ấy, có bao nhiêu thứ mực, bao nhiêu hình khối, đường nét trong khay sẽ có bấy nhiêu thứ xen kẽ được in lên giấy, cho nó là một tờ giấy có vân đá, tức các đường gợn sóng, kẻ sọc, hoặc nếu được tô vẽ, điểm xuyết thì có các họa tiết như bông hoa, trái quả, chiếc lá, con cá, con chim… và một thứ không thể thiếu, hình thành nên buổi đầu của nghệ thuật Ebru là thi pháp, hay những dòng thơ trong kinh Koran. Để từ đó, có Ebru- giấy vân đá, song về thực chất rất phong phú, đa dạng, thích trừu tượng thì trừu tượng, thích tả thực thì tả thực.

Khâu đầu tiên của nghệ thuật Ebru là chuẩn bị một chiếc khay hình chữ nhật bằng đúng kích cỡ tờ giấy. Cái khay này trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ là Teknesi, thường cao chỉ độ sáu xentimét, và được đổ đầy một dung dịch nhờn nhớt, chế từ tragacanth, tinh bột trắng chiết xuất từ một loại cây ở vùng Anatolia và là một loại gôm có chất kết dính. Thứ hai là sửa soạn các loại màu (Boya), càng nhiều càng tốt, đựng trong các lọ (Kavanoz), và cũng là một loại bột tự nhiên lấy từ đất đá, thực vật, pha với nước và mật bò (Od), thường từ năm đến 10 giọt mật với tác dụng nhũ hóa, bao bọc giọt mực khi đưa vào nước sẽ lan ra, chồng chất mà không hòa tan, thế mới tạo nên các hoa văn. Thứ ba là phác thảo trong đầu điều cần vẽ, sau đó lấy cọ (Firca) chấm vào từng loại mực, vẩy mực lên một hoặc nhiều chỗ trong khay.

Có thể chỗ này màu đỏ, chỗ kia màu xanh hay vàng, và chúng sẽ loang ra thành các hình tròn. Tùy ý, người ta có thể chấm màu thêm vào từng hình tròn ấy mà tạo ra các đường tròn đồng tâm. Có người lại lấy bút rạch hình tròn ra làm đôi và vuốt lên thành hai cánh hoa kiểu hoa tulip hoặc hai cái lá kiểu dây cuốn chẳng hạn. Cũng có khi khuấy đều cả khay, xẻ dọc xẻ ngang, dùng lược để cào như chải tóc nhằm tẽ các loại mực bấy giờ đang nổi dập dềnh thành các lằn sóng, xoắn ốc, đường thẳng, đường dích dắc… Sau đó, đặt một tờ giấy trắng (Kagit) lên khay dầu, vỗ nhẹ đều khắp mặt giấy, cho nó ăn mực và lập tức nhấc lên. Ngay lúc đó, khi giấy còn ướt đã thấy một cảnh tượng vô cùng diễm lệ, ví dụ như một vườn hoa nở thắm hay một đàn cá tung tăng… và khi khô thì màu đằm lại, cùng các chi tiết sắc sảo. Bằng cách này, hàng trăm tờ giấy màu Ebru sẽ được in ra.

Thế nhưng, khi thời gian ở trong khay mực càng lâu, các loại mực sẽ không còn giữ được nguyên hình vẽ mà biến dạng, tạo nên các đường gợn bung tỏa và hạt sạn, khi in ra sẽ cho tờ giấy có hình thủy triều, hình xương cá, hình bụi cát và dĩ nhiên đa phần là những vân đá kỳ thú. Một số người thường để cho nền màu (nền giấy, nền tranh) là một sự nhiễu loạn, và ở trung tâm của khay sẽ nhạt hown hoặc đậm hơn nhằm viết thư pháp- thơ phú. Cũng có người viết thư pháp trước trên giấy, rồi mới thấm màu. Họ thường viết bằng hồ dán lên giữa tờ giấy, xong hong khô, sau đó mới cho vào khay, để mực thấm đẫm xung quanh, còn ở giữa do có hồ cứng không thấm màu nên ra “lò” sẽ giữ được chữ trắng trên nền màu sặc sỡ cùng các họa tiết kỳ ảo.

Tuy nhiên, cái nhiều người thường hướng đến vẫn là giấy hoa. Mặc dù hoa đã xuất hiện trong Ebru từ lâu, song phổ biến nhất là từ thế kỷ 18, và một người thực hiện đầu tiên về Ebru hoa là Mehmed Efendi, một tu sĩ sống tại nhà thờ Ayasofya từ năm 1770 đến 1773; tác phẩm của ông thường có rất nhiều hoa, sao sa đẹp mắt, thay vì những hình đơn giản như vuông, tròn, hình thoi, hình nhật nguyệt, hình mái nhà thờ… vì ngày xưa giáo luật thường không cho vẽ quá cụ thể và phong phú với quan niệm Sự sáng tạo thuộc về Thượng Đế.

Cho nên, tới Necmetin Okyay (1883-1976) thì nghệ thuật vẽ giấy hoa đã bước sang đỉnh cao vì nghệ nhân này đã rất táo bạo, vượt qua khuôn phép để vẽ họa mọi thứ rất chi tiết- rõ ràng, trong đó có các loại hoa hồng, hoa huệ, hoa cẩm chướng, daisy, pansy, poppy, tulip,… mở ra thế giới hoa lá trong Ebru. Mới đầu, chỉ là khoắng mực cho một số những hình vẽ vân đá gợi cảm, từ đây các nghệ nhân cũng mạnh dạn thể hiện nhiều nội dung mới lạ, gồm cả chim thú, phong cảnh và họ chỉ cần vẽ trực tiếp trên mặt nước. Các sáng tác tuy đầy tính ngẫu hứng, song kỹ thuật, sự pha phối màu, mảng miếng là có quy tắc căn bản và để có nội dung xinh đẹp, hấp dẫn cần phải có một khối kiến thức về hội họa, điêu khắc và kinh nghiệm lâu đời.

Từ xưa tới giờ, vẽ- in Ebru vẫn được tiếp nối theo kiểu truyền miệng và kinh nghiệm (thực hành). Không mấy có sách dạy vẽ về từng họa tiết Ebru, mà người ta phải tới từng xưởng giấy, học hỏi. Nghề nghiệp do vậy được truyền từ cha sang con hoặc thầy qua trò và phải mất hai năm trở lên học nghề. Vì là một nét đẹp văn hóa dân tộc, cũng là trí tuệ của thế giới, lại thích hợp với mọi người, nói chung ai cũng làm được, ngoài ra còn giúp tăng cường giao tiếp, bình đẳng giới, nhất là cho phụ nữ được thể hiện các khả năng tư duy từ xưa khi xã hội hãy còn mù chữ nên nghệ thuật làm giấy vân đá Thổ Nhĩ Kỳ đã được phong làm Di sản thế giới vào năm 2014.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
error: Content is protected !!