Do địa hình sông nước đặc biệt và nhu cầu đi lại nhiều, cấp thiết cần một nơi có tới mấy cây cầu hoặc để đổi mới, thay thế, gìn giữ một công trình lâu đời mà người ta xây dựng thêm vài cây cầu khác kế cận. Kết quả là có sự song hành của cả ba, bốn cây cầu ở đâu đó, tạo nên những bộ cầu thú vị, hấp dẫn. Chưa hết, những cây cầu này còn có thể mang nhiều màu sắc, cấu trúc khác nhau từ nhịp cuốn tới dầm kéo, dầm hẫng, dây văng, dây võng, giàn lưới…
Một trong những bộ ba cầu như vậy, đẹp thơ mộng là ba cây cầu Tromostovje- Tam Kiều giữa thủ đô Ljubljana của Slovenia và trên dòng sông Ljubljanica. Đây là ba cây cầu đá- bê tông có hình dạng, trang trí hết sức trang nhã, được coi là kiệt tác của kiến trúc Baroque, Art Nouveau và nối kết giữa khu phố cổ đã ra đời từ thế kỷ 13 bên bờ đông nam sông với quảng trường trung tâm Preseren ở bờ tây bắc sông và vì ở hai phía tả hữu có hai phong cách nhà cửa đối lập nên công trình này cũng được xem là cầu nối giữa quá khứ và hiện đại của Ljubljana. Nó cũng cùng quảng trường kể trên, lâu đài Ljubljanski grad hợp thành ba cảnh đẹp trữ tình nhất thủ đô.
Mọi sự bắt đầu vào năm 1280 khi tại đây có một cây cầu gỗ, ban đầu gọi là cầu cũ Stari most và về sau đổi thành cầu dưới Spodnji most để so sánh với cầu trên- Cobblera hay cầu của người đóng giày. Dù là gì, nó vẫn là một huyết mạch quan trọng liên kết giữa hai vùng Tây Bắc Âu, Đông Nam Âu và vùng Balkan với nhau. Vào năm 1842, Spodnji most đã được thay thế bằng một tân kiều của kiến trúc sư người Italy Giovani Picco và mang tên là Francev most hoặc Franciskanski most nhằm vinh danh Đại công tước Franz Karl- Áo, thân phụ của hai hoàng đế Franz Joseph I và Ferdinand Maximilian I, và là một cầu đá có hai nhịp cuốn cùng một hàng rào sắt. Vào năm 1931 để cây cầu ấy không trở thành nút thắt cổ chai khi đi lại, kiến trúc sư người Slovenia Joze Plecnik và học trò của ông- Ciril Tavcar đã sửa sang phần hành lang đi bộ của nó thành hai cây cầu phụ hai phía với mỗi bên hơi nghiêng một chút, khiến chúng không song song với nguyên mẫu mà làm thành hai hình phễu, hướng không gian của quảng trường trung tâm qua sông về phía quảng trường Mestni và nhờ cách này, cả hai bờ đều hợp nhất trong một bố cục hài hòa và đưa Preseren thành điểm nhấn của thành phố. Plecnik cũng tháo dỡ những lan can kim loại ra khỏi cầu và trang bị cho cả ba cây cầu, gồm cầu đá ở giữa và hai cầu bê tông hai phía những lan can đồ sộ cùng đèn đá cao vút.
Đại thể, cầu chính giữa được làm từ đá vôi Glinica có màu trắng xám, dịu mát; hai cầu còn lại bằng bê tông cốt thép sơn trắng, giả lập đá song nhẹ hơn. Suốt chiều dài của chúng có tổng cộng 642 thanh chắn con tiện bầu bĩnh, 80 quả cầu, 20 cây đèn đường. Vốn mặt cầu được rải nhựa đường song từ năm 2010 đã lát đá granite cho đồng chất. Song điều độc đáo nhất là ông còn xây hai cầu thang bộ dẫn từ trên cao xuống tận bờ sông và thiết kế chúng tựa như những cây cầu ở thành phố kênh rạch Venice- Italy làm ra một cửa sông nhằm khắc họa đặc điểm nằm bên Địa Trung Hải của Ljubljana. Mỗi bậc cầu thang cùng sự sắp xếp của bóng đá, đèn đường có những nhịp điệu bồng bềnh nên ở góc độ nào cũng cho cảm tượng về một làn sóng hay sự chuyển động không ngừng. Nhằm tăng vẻ đẹp nên thơ, dễ nhận của công trình, cạnh cây cầu còn có những hàng dương quanh năm cũng xanh tươi, rào rạt. Bên bờ phải của sông cũng được tô điểm bằng một sạp hoa nối với dãy cột của Chợ trung tâm Ljubljana và bên bờ trái có một kiosk buôn bán đủ loại, tạo ấn tượng thật lãng mạn và sầm uất. Về vị trí, công trình tọa lạc ở một trung điểm rất quan trọng trên giao lộ của hai trục đô thị Plecnik, trục sông và trục chạy giữa đồi Roznik và lâu đài. Từ năm 2007, cả ba cây cầu đều đã trở thành một cầu đi bộ và thu hút hàng triệu du khách dạo mát, chụp ảnh.
Cũng tên Tam Kiều, cầu Windmill ở Southall, West London- Anh có đặc điểm là ba con đường: đường bộ, đường thủy và đường sắt được xây gối đầu lên nhau. Đây là một tác phẩm của kiến trúc sư đại tài người Anh Isambard Kingdom Brunel, một trong những nhân vật sáng tạo và sung mãn nhất trong lịch sử kỹ thuật xây dựng và cơ khí châu Âu và là một người khổng lồ, vĩ đại nhất của Cách mạng Công nghiệp Anh. Chính ông là người đã làm thay đổi diện mạo Anh quốc bằng những thiết kế đột phá và là tác giả của nhiều xưởng đóng tàu, nhiều tuyến đường sắt, như tuyến đường sắt Great Western cùng nhiều cây cầu, đường hầm quan trọng, giúp cách mạng hóa giao thông công cộng và kỹ thuật hiện đại ở nước này cũng như trên thế giới. Cầu Windmill là một phần trong dự án đường sắt cuối cùng của kỹ sư và được khởi công vào năm 1856, hoàn thành vào năm 1859 trước khi ông mất.
Là một công trình ba tầng, nó được thiết kế với hai cây cầu gang thép được bố trí để cho phép các tuyến đường của đường bộ Windmill Lane, đường thủy của Kênh đào Grand Junction và đường sắt Great Western & Brentford cắt qua nhau. Kỳ thực, nó chỉ có hai cây cầu gồm một cầu đường bộ và một cầu ống dẫn nước song vẫn tạo nên cảm giác của bộ ba cầu khi đường sắt chạy qua đây và nằm sâu hơn 10 mét dưới mặt đường, trong một đoạn cắt sâu và khuất lấp để từ ngoài khó nhìn thấy được như một con đường bí mật vậy nhìn ra công viên Osterley ở phía nam. Ai cũng thấy một cây cầu đường bộ vắt qua kênh khi họ nhìn từ xa hoặc từ xe cộ xuống song đến chỗ giao cắt thì còn phát hiện thêm dưới kênh đào còn có một tuyến đường sắt nữa chạy từ Southall tới Brentford.
Toàn bộ nơi này có tên là Cầu Windmill bởi vì nó được gọi theo một cối xay gió nằm gần đó và rồi bên con kênh đào ra đời vào năm 1794 và là một đoạn ngắn của đại kênh đào từ Northhamptonshire đến sông Thames ở Brentford. Đoạn kênh này phải mất 12 năm mới hoàn thiện và lúc ấy là một phương tiện chính để vận chuyển người, hàng hóa đi xuyên tây. Kế sau kênh, người ta tiếp tục dựng đường sắt Great Western & Brentford, cũng là một đoạn đường dài khoảng sáu kilômét thuộc Great Western Line nhằm đưa đồ và người, vật đi xa. Brunel được giao nhiệm vụ xây dựng tuyến đường sắt này và một bến tàu vào các năm 1850, lúc ông vừa cùng cha hoàn thành xong Đường hầm Thames ở Rotherhithe và nhận nó nằm cách đó về phía tây 24 kilômét. Nhận thấy một trở ngại lớn là tuyến đường sắt mới không thể được xuyên qua khuôn viên rộng lớn của Công viên Osterley ngay cạnh nên ông đã thiết kế con đường đi vòng và tính toán việc đặt nó dưới kênh để tiết kiệm, giúp chi phí rẻ nhiều hơn so với việc chuyển hướng kênh. Và việc này đã thành công, biến đây trở thành nơi duy nhất có cả đường sắt, đường thủy, đường bộ nằm trên nhau. Mặc dù nó vốn là tuyến đường sắt vận chuyển hàng hóa song do nhu cầu chở khách, từ năm 1860 tới 1942 con đường chủ yếu phục vụ khách du lịch. Trong cả ba phương thức vận chuyển, đường bộ cho tới nay vẫn là chỗ đông đúc nhất, kế đó là kênh đào với những nhà thuyền của dân và tàu du ngoạn đi lại nườm nượp. Đường sắt sau một thời gian tạm nghỉ, trong thế kỷ 21 thỉnh thoảng cũng chạy.
Những cây cầu Forth cũng là một bộ ba cầu tuyệt vời của Anh trên dòng sông Forth- Scotland, đồng thời là di sản thế giới từ năm 2015. Chảy từ Trossachs qua Stirling, xuống thung lũng Forth trước khi mở rộng tại Kincardine, vào Edinburgh và ra biển Bắc, sông Forth được bắc qua bởi năm cây cầu, trong đó ba cây cầu, gồm Cầu đường sắt Forth, Cầu đường bộ Forth và Cầu bến phà Queensferry thống trị đường chân trời của Edinburgh, cũng như cung cấp các tuyến giao thông quan trọng giữa Edinburgh và Lothians ở bờ biển phía nam và Fife ở bờ biển phía bắc.
Do là một cảng biển thịnh vượng, chuyên buôn bán than, len, da thú và nhập khẩu rượu vang, lụa, vải lanh, gỗ từ châu Âu, đến thế kỷ 18, South Queensferry đã trở thành một nơi rất sầm uất, đông vui, có thể xem là bến cảng bận rộn nhất Scotland. Ngoài thuyền, ở đây đường sắt cũng phát triển và đòi hỏi phải có một cây cầu cho những chuyến hàng xe lửa bay xa, và vì thế Scotland có Cầu đường sắt Forth, một công trình minh chứng cho những kỳ quan kỹ thuật tiên tiến của thời Victoria. Vào năm 1890, nó đã được hoàng tử xứ Wales cắt băng khánh thành và vào năm 2015 trở thành Di sản UNESCO vì những giá trị lịch sử và đóng góp to lớn. Cây cầu này gần như được làm hoàn toàn bằng thép, với 53 nghìn tấn thép, 6,5 triệu cái đinh tán và để mau chóng hoàn thiện có lúc phải cần hơn 4.000 thợ thi công. Mỗi ngày, nó phục vụ 200 chuyến tàu và mỗi năm chuyên chở ba triệu hành khách.
Bên cạnh đường sắt, Scotland cũng cần một cầu đường bộ thật dài nhằm đáp ứng dân số đông tới năm triệu người, và Cầu đường bộ Forth đã xuất hiện vào năm 1964 cho người dân thoải mái phóng xe ô tô, hơn thế còn đi trên cây cầu dài thứ tư thế giới. Cụ thể vào năm 1958, nó được khởi công và làm đường băng qua Firth of Forth. Tới năm 1961 thì hoàn thành các điểm neo cáp chính, khoan gắn vào đá ở đôi bờ cùng hai tháp cầu. Tiếp tục sau đó 48 nghìn kilômét cáp chịu lực được căng ra và khi các dầm hộp cuối cùng đứng vào đúng vị trí thì cây cầu đã xuất hiện trước sự chứng kiến hồ hởi của cả đất nước. Với chiều dài 2,5 kilômét, rộng 33 mét, cao 156 mét, cầu treo dây võng này hàng ngày chuyên chở tới gần trăm nghìn xe cộ và thay thế hữu hiệu cho những chuyến phà dai dẳng đã có từ 800 năm trước để đưa đón hàng, người và những phương tiện cơ giới. Vào năm 2001, nó đã được xếp hạng công trình hạng A, tức được bảo vệ đặc biệt.
Tiếp sau Cầu đường bộ Forth, Cầu bến phà Queensferry cũng nhanh chóng góp mặt, phần vì dân số mỗi lúc một tăng, phần vì Cầu đường bộ Forth đã có một số dấu hiệu xuống cấp. Lần này là một công trình dây văng ba tháp dài nhất hành tinh, tới 2,7 kilômét với bốn làn mang theo quốc lộ M90 và thông làn vào năm 2017. Nó cũng là một cây cầu được xây dựng công phu nhất khi có 149 mảnh ghép, mỗi mảnh dài 120 mét, rộng 40 mét được đúc ở Tây Ban Nha, Trung Quốc và chở bằng tàu biển đến khu tập kết. Tòa tháp của nó cũng cao tới 207 mét, đưa Cầu bến phà Queensferry thành cầu cao nhất nước Anh.
Mỗi cây cầu trong bộ ba cầu Forth đều ra đời ở một thế kỷ khác nhau, cho thấy những đỉnh cao kỹ thuật, khoa học công nghệ thời đại. Và sự xuất hiện bên nhau của chúng đã giải quyết được gần như tối ưu mọi vấn đề đi lại, giao thương, môi trường, văn hóa, chính trị… ở một vùng đất đông đúc như Queensferry, chúng cũng trở thành một cảnh đẹp muôn người ngưỡng vọng và khiến dòng sông Forth vô cùng nổi tiếng trên thế giới
