ĐẬP HOOVER KỲ QUAN KIẾN TRÚC HIỆN ĐẠI MỸ

Bắt đầu từ bốn nghìn năm trước, ở Trung Đông đã có những con đập cao để chứa và ngăn các dòng nước. Kể từ đó tới nay, đập nước ngày càng xuất hiện nhiều với chiều cao, bề rộng đại khủng. Chúng không chỉ là các công trình dân sinh mà còn là một kỳ quan kiến trúc, đỉnh cao của khoa học kỹ thuật mỗi thời đại. Trên thế giới có tới hàng trăm con đập nổi tiếng mà lớn nhất phải kể tới đập Jinping-I trên sông Yalong-Trung Quốc cao 348 mét, đập Nurek sông Vakhsh-Tajikistan 300 mét, đập Grande Dixence sông Dixence- Thụy Sĩ 285 mét, đập Tehri sông Bhagirathi- Ấn Độ 261 mét, đập Mica sông Colombia- Canada 243 mét, đập Oroville sông Feather- Mỹ 230 mét, đập Chirkey sông Sulak- Nga 232,5 mét, đập Toktogul sông Naryn- Kyrgyztan 215 mét…

Và một đập đã đi vào rất nhiều giai thoại là đập Hoover còn gọi Boulder trên sông Colorado nằm giữa tiểu bang Arizona và Nevada- Mỹ. Đây là một đập bê tông trọng lực cao nhất thế kỷ 20 cũng như có sự tốn kém nhiều nhất khi mà nó được xây dựng chính giữa Cơn đại suy thoái (khủng hoảng kinh tế) của Mỹ.

Nước Mỹ có khá nhiều dòng sông lớn, trong đó có sông Colorado với chiều dài hơn 2.330 kilômét tưới tiêu cho 1/12 ruộng vườn của Mỹ.  Vào năm 1905, dòng sông tự nhiên đổi hướng nhấn chìm nhiều vùng đất, trước điều  này chính quyền đã quyết định xây một con đập vừa để tưới tiêu vừa làm thủy điện cung cấp điện thắp sáng (về đêm) cho Los Angeles, Las Vegas và Phoenix. Vào năm 1931, công trình được khởi công và theo báo chí sẽ có tên là đập Hoover dựa theo tên tổng thống đương thời Herbert Hoover, thế nhưng khi khánh thành năm 1936 nó lại được đổi tên Boulder do nằm ở địa phần ngôi làng Boulder. Trong 10 năm liền, người ta lúc gọi nó là Hoover lúc là Boulder. Đến năm 1947, tổng thống Harry Truman mới chính thức đặt tên đập là Hoover như cũ.

Để xây dựng con đập này, phải cần tới 21 nghìn công nhân, phần lớn là dân gốc Phi, để đục đá và chuyển hơn 8,2 triệu tấn nham thạch đi nơi khác, tạo nên một lũng chảo xây các thành bao cao đến 221 mét, tương ứng với một tòa nhà 70 tầng. Trong khi xây đập, họ còn phải nắn dòng Colorado ra hướng khác bằng việc đào bốn đường hầm xuyên qua vách đá tháo nước, trong đó hầm lớn nhất dài năm kilômét và có đường kính năm kilômét. Phải cần đến 6,6 triệu tấn xi măng và 20 nghìn tấn thép gia cố công trình. Với số lượng xi măng của nó, có thể lát một con đường dài từ thành phố San Francisco tới New York.

Nhằm phục vụ cho việc xây đập, người ta cũng phải dựng lên cả một thị trấn dành cho công nhân ở quanh ngôi làng Boulder (giờ đây là thành phố Boulder). Bấy giờ có rất nhiều người thất nghiệp, vô gia cư đang cần chỗ làm và ăn nghỉ trong cơn khủng hoảng kinh tế. Nghe theo lời hiệu triệu, mọi người đã đổ tới đây lập nên một thị trấn đông đúc nhất nước Mỹ. Mới đầu, chỉ có hình thức tự quản. Sau 30 năm, tức là  năm 1930, nhà nước mới quản lý nơi  này.

Do sự xây dựng tốn kém, với một công ty không thể trang trải nổi trong cơn khủng hoảng nên đã có sáu công ty đứng lên hợp doanh đầu tư 49 triệu đô la (tương ứng 700 triệu đô la hôm nay) để tạo ra đập Hoover. Họ chọn ra những người khỏe nhất tiến hành xây dựng. Không hiểu vì lý do gì mà chính quyền không thuê công nhân gốc Hoa hay châu Á mà chủ yếu dùng dân địa phương. Tổng cộng có đến hơn 20 nghìn công nhân được vào làm việc, thay phiên nhau mỗi ngày 3.500 người, thậm chí có ngày 5.000 người. Tuy công việc nguy hiểm (đồ rằng đã có gần 100 người tử mạng vì bị đá đè, ngã từ trên cao xuống…) song tiền công trả cho công nhân rất eo hẹp, chỉ từ 50 xu đến 1,25 đô la/giờ. Nhờ lao động không biết mệt mỏi, sau năm năm con đập nổi tiếng đã ra đời.

Là đập cao nhất thế giới bấy giờ và đập cao thứ hai nước Mỹ hôm nay sau đập Oroville. Không chỉ vậy, trong quá trình ngăn sông Colorado, nó còn tạo nên hồ Mead là hồ nước ngọt lớn nhất của Mỹ, dài 176 kilômét, sâu 950 mét, diện tích 642 kilômét vuông, dung tích 35 kilômét khối. Hai bên đập được chống ngập bởi hai đập tràn xả nước. Mỗi cái đều có nhiều cánh cửa bằng thép dài 120 mét, cao 20 mét và nặng 2,3 tấn, đóng mở tự động hoặc bằng tay. Chúng sẽ được nâng lên hoặc hạ xuống tùy theo mực nước trong hồ chứa. Nước xả từ cổng sẽ rơi từ độ cao cả trăm mét xuống với tốc độ 5,700 mét khối/giây. Vừa là công trình tưới tiêu cho hai triệu a, đập Hoover còn là một đập thủy điện lớn nhất khu vực với công suất 42 tỷ kWh và nhờ 17 máy phát điện cung cấp điện cho 1,3 triệu ngôi nhà ở Nevada, Arizona và California.

Mặt trước của đập, nhà máy điện và các hầm ngầm đều được trang trí đẹp mắt. Mới đầu, người ta định trang trí nó với các tượng chim đại bàng và lan can kiểu Gothic, tuy nhiên sau đó đã chuyển sang phong cách Art Deco. Nghệ sĩ Gordon B. Kaufmann là người đã thiết kế ra các tháp tượng nổi trên mặt đập, trên đó gắn những chiếc đồng hồ tính theo giờ Nevada và Arizona. Nghệ sĩ Allen Tupper True  làm nên các họa tiết cho tường và sàn bằng các mô típ của hai dân tộc Navajo và Pueblo gồm các tranh cát, đồ sành sứ, may mặc rực rỡ thể hiện quan niệm về các hiện tượng thời tiết như sấm chớp, mưa gió, mây mù và các sinh vật bản địa của vùng như các loài rắn, thằn lằn, chim chóc và cảnh sa mạc miền tây… Chúng được trải trên các hành làng và nội sảnh các tòa nhà trong đập. Nghệ sĩ Oskar J.W lại là người điêu khắc các tượng và phù điêu như có tượng các thiên tài có cánh, bia tưởng niệm những công nhân đã mất thể hiện vẻ đẹp của trí tuệ và thành tựu khoac học, phù điêu trên thang máy cho thấy tầm quan trọng của đập như chống lũ, tưới tiêu, trữ nước, làm điện…

Để tiện việc đi lại từ năm 1930 đã có con đường hai làn chạy phía trên đập, song vì mỗi năm số lượng xe cộ đông dần và khách tham quan tò mò tới xem nên quốc lộ 93 thường bị tắc nghẽn nên năm 2005, địa phương đã cho làm một cây cầu bắc qua đập, tên là Mike O, Callaghan-Pat Tillman, dài 580 mét, cao 274 mét trên sông Colorado và là cây cầu bê tông một sải dài nhất Tây Bán Cầu và thứ hai châu Mỹ. Nhờ thế, ai nấy có thể lán lại ngắm cảnh sông nước hữu tình và con đập trường thành phía dưới.

Có khá nhiều câu chuyện thú vị về đập Hoover như đã có 100 người bị chết chôn dưới đống xi măng (tuy nhiên điều này đã bị nhà chức trách bác bỏ song vẫn thừa nhận 100 người này đã mất trong khi lao động và lập một bia tưởng niệm lớn ghi danh và lời khen ngợi Họ đã  hy sinh cho sa mạc nở hoa. Hoặc đập đã từng là mục tiêu của một vụ đánh bom do phát xít Đức. Đồ rằng trong chiến tranh thế giới thứ hai vào cuối năm 1939, phía Mỹ phát hiện ra Đức có âm mưu đánh sập đập Hoover. Để tránh mọi vụ khủng bố, chính quyền đã cấm mọi tàu thuyền tư nhân được qua lại nơi đây, cũng như giảm thiểu số khách đến thăm, thậm chí sau vụ Trân Châu Cảng năm 1941 thì đập đã đóng cửa không tiếp khách. Phải sau đại chiến năm 1945, nó mới được mở cửa trở lại.

Vào ngày khánh thành đập, trong niềm hân hoan, nước Mỹ đã cử hành một buổi lễ cắt băng trọng thể với sự tham gia của 20 nghìn người đứng xem con đập- không chỉ là đập nước lớn nhất của Mỹ và mà còn là công trình vĩ đại của thế kỷ, biểu tượng của sự khéo léo và thành công trong việc chinh phục thiên nhiên, cho cuộc cách mạng kỹ thuật và sự phục hồi của đất nước. Năm 1985, công trình đã được xem là Di tích lịch sử quốc gia và năm 1994 là kỳ quan kiến trúc hiện đại.

Đập Hoover đã xuất hiện trong nhiều bộ phim ăn khách, nhất là phim hành động khoa học như Siêu nhân, Robot đại chiến, Saboteur… Mỗi năm, nó đón tiếp bảy triệu lượt khách, mỗi ngày khoảng 20 nghìn khách. Ngoài ra, hồ Mead còn là nơi nghỉ dưỡng của 10 triệu người, với các thú chơi du thuyền, bơi lội, câu cá. Từ Las Vegas, theo đường quốc lộ khoảng 20 phút, du khách sẽ tới một vùng đất vô cùng mát rượi, xa xa là hồ nước xanh rì, thác đổ cuồn cuộn và các dàn máy phát điện lô xô. Ngoài đứng chụp ảnh bên thành đập, ai nấy còn được đi thuyền ngoạn cảnh hồ và vào thăm các kỹ sư trong các nhà máy thủy điện.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
error: Content is protected !!