Trong các loài thú ở biển có lẽ dễ gần, dễ thương nhất là hải cẩu. Chúng dáng vẻ linh hoạt, tiếng kêu ăng ẳng, từ thoạt nhìn đầu tiên đã khiến người xem yêu mến. Hiện nay, nhiều nơi còn nuôi, huấn luyện hải cẩu vì mục đích kinh tế như bắt cá, quân sự như thám thính hay giải trí như làm xiếc đóng phim và làm cảnh.
Loại thú này nằm trong bộ chân vây Pinnipedia, gồm ba họ: họ Otariidae với sáu loại và 12 loài có tai bao gồm cả hải cẩu lông thú và sư tử biển, họ Phocidae 13 loài, 18 loài không tai hoặc có lông tơ, họ Odobenidae với loài moóc duy nhất có hai cái răng nanh to dài. Hải cẩu lông thú sống nhiều ở Bắc Thái Bình Dương và là sinh vật có giá trị về bộ lông. Hải cẩu lông tơ lại chỉ sống ở xứ lạnh và có giá trị về thịt, da và mỡ dùng làm dầu đèn, dầu bôi trơn và xà phòng.
Có thể nói cơ thể hải cẩu lớn hơn nhiều loài thú ăn thịt khác trên mặt đất. Loài hải cẩu nhỏ nhất là hải cẩu đeo vòng, lúc trưởng thành dài tới 1,4 mét, nặng 90 kilôgam. Loài lớn nhất là hải cẩu voi ở Nam Bán Cầu, những con đực, dài 6,5 mét, nặng 3.630 kilôgam. Tùy vào đặc tính mà con đực có thể nhỏ hơn con cái, như hải cẩu sư, hải cẩu ăn cua, hải cẩu báo và hải cẩu Weddell, bằng con cái như phần lớn hải cẩu Phocidae hoặc lớn hơn con cái là hải cẩu Otariidae.
Mỡ của hải cẩu rất dày, chiếm hơn 45% trọng lượng và là một cái máy cân bằng nhiệt, năng lượng trong thời cho con bú sữa và là một cái phao dưới nước. Tiếng kêu của hải cẩu rất hấp dẫn, từ lắng dịu như ở hải cẩu Weddell, chiêm chiếp như tiếng chim ở hải cẩu Ross đến gay gắt khó chịu và vang xa tới 1,6 kilômét ở hải cẩu voi Bán Cầu Bắc. Nhiều loại hải cẩu như hải cẩu cảng gần như chỉ sống ở trên bờ song có loại như hải cầu lông thú Bắc Bán Cầu lại dành sáu đến tám tháng ngoài biển. Những con hải cẩu bán cực sống ở rìa các tảng băng thường bám vào các tảng băng trôi để đi tìm kiếm thức ăn và tự vệ.
Nói chung, tất cả các loại hải cẩu đều dễ hòa hợp và thích ngao du. Hai cầu lông thú vào mùa đông thường sống một mình song mùa hè lại tập trung tại các nơi sinh sản đông tới hơn một triệu con trong bán kính 80 kilômét. Các con đực thường có tới 15 đến 40 con cái. Trong số hải cẩu lông tơ thì chỉ có hải cẩu voi là đa thê hơn cả, trung bình là 20 con cái/đực, kế đó là hải cẩu xám 10/1. Hải cẩu có thể sống tới 30 năm.
Về xuất xứ, hải cẩu lông thú có quan hệ gần với loài gấu nên còn được gọi là gấu biển. Chúng thuộc chủ yếu hai loại Callorhinus và Arctocephalus.
Ở Callorhinus, nổi bật là hải cẩu lông thú Bắc Cực Cursinus sinh nở vào hè thu ở các đảo Pribilof và Komandor ở biển Bering, đảo Robben ở biển Okhotsk Nga, đảo Kurile biển Nhật Bản và đảo San Miguel biển California Mỹ. Mùa đông và đầu xuân, chúng phân tán ra Bắc Thái Bình Dương, nam biển Bering, biển Nhật Bản và biển Okhotsk. Các con đực già bao giờ cũng đến được các bãi đá đầu tiên vào mùa xuân và có hàng trăm con cái theo đuổi. Con cái đẻ một con có mầu đen và nặng 5,4 kilôgam, khi trưởng thành con đực nặng 225 kilôgam, con cái nặng 40 kilôgam. Con đực bao giờ cũng chết sớm hơn, hiếm khi tới 20 tuổi song cá biệt con cái lên tới hơn 25 năm. Chúng cũng hay di cư đến phía nam từ Pribilof và một số đảo tới nhiều nơi từ tháng 11 hoặc đầu xuân.
Ở Arctocephalus, nổi bật là hải cẩu lông thú Nam Phi A.pusillus là sinh vật sống ở bờ biển. Chúng tập trung cách đất liền 160 kilômét từ Tây Nam Phi đến mũi Hảo Vọng.
Hải cẩu lông thú Nam Mỹ A.australis rải rác từ Brazil tới eo biển Magellan, và từ bắc đến nam Peru và quần đảo Galápagos và đảo Falkland. Sư tủ biển là sinh vật nổi bật ở họ Otariidae, với nărn loài, lông to và xù lên trông như một con sư tử.
Hải cẩu lông tơ thuộc họ Phocidae là sinh vật có lối sống thủy sinh đặc biệt nhất trong họ hàng hải cẩu. Chúng có cổ ngắn, có thể dướn lên và không có tai ngoài, chân sau dài phù hợp với bơi lội ngược, với hải cẩu lông thú chỉ dùng chân trước để bơi và di chuyển trên đất theo hình lượn sóng. Đa số hải cẩu lông tơ đều di cư đến vùng vĩ độ cao, số còn lại ở vùng nước bán nhiệt đới hoặc ở hồ lớn và thường di chuyển đến vùng lạnh hơn để sinh sản.
Trong hải cầu lông tơ, nổi bật là hải cẩu lông tơ Bắc Bán Cầu như hải cẩu hạc Pagophilus groenlandicus hay Phoca groenlandicus là sinh vật biển sâu, sinh sản trên các tảng băng trôi ở Bắc Đại Tây Dương và vùng nước kế cận với biển Bắc Cực. Cả năm gần như định cư song cũng có những chuyến đi dài, thường thấy ở biển Labrador tới biển Kara, biển Siberia.
Đặc biệt thứ hai là hải cẩu đeo vòng Pusa hispida hay Phoca hispida với sáu tiêu loại, nói chung sống ở bên rìa băng Bắc Cực ở Bắc Băng Dương và đôi khi tới Bắc Cực. Chúng xuất hiện ở các bãi băng dọc phía bắc Âu – Á, Greenland, Bắc Mỹ, trong các hồ nước đóng băng của tây Âu, vịnh Hudson, Labrador, biển Okhotsk, biển bắc Nhật Bản và nam biển Bering. Đây là loài thấy nhiều nhất và phân bố rộng rãi nhất ở Nga vì nước này có đường bờ biển đóng băng dài, chúng cũng là loài quan trọng nhất trong họ hàng hải cẩu về mặt kinh tế đối với người dân bản địa viễn bắc.
Độc đáo không kém là hải cầu lông tơ cảng Phoca vitulina với năm tiểu loại phân bố quanh bờ Bắc Băng Dương và chạy về phía nam Âu – Á và Bắc Mỹ, điểm xa nhất phía bắc là đảo Ellesmere, điểm xa về phía nam là Bồ Đào Nha và bang Bắc Carolina Mỹ (Đại Tây Dương, phía bắc Hạ California Mỹ và Trung Quốc (Thái Bình Dương) và một số ở biển Baltic. Hải cầu lông tơ Nam Cực có bốn loài rất độc đáo, đáng kể nhất là hải cẩu ăn cua Lobodon carcinophagus cũng là loài thấy nhiều nhất ở vùng Nam Cực và cũng được gọi là hải câu ăn nhuyễn thể. Ba loại còn lại là hải cẩu voi Mirounga leonina dễ nhận với cái mõm dài, hải cẩu lông tơ Weddell Leptonychotes weddelli và hải cẩu báo Hydrurga leptonyx
Từ thế kỷ 19, vì lợi ích kinh tế từ hải cẩu, con người đã săn đuổi chúng để lấy thịt, da, lông và mỡ đến nỗi tới nay nhiều loài gần như tiệt chủng, ước tính người ta đã giết chết hơn 45 triệu con hải cẩu. Năm 1911, khi số lượng hải câu lông thú chỉ còn 200 nghìn con thì Mỹ, Anh, Nhật Bản và Nga mới có hiệp ước đầu tiên không săn bắn hải câu, và bản hiệp định này đến năm 1942 mới được thực hiện.
Đến quần đảo Bắc Cực Svalbard Na Uy nơi quanh năm tuyết phủ, sẽ thấy những đàn hải cẩu râu xồm rất dễ thương. Đây là một loài hải cẩu lớn và đẹp nhất trong họ hàng hải cẩu. Chúng có mầu lông trắng tỉnh hoặc phớt hồng, dáng vẻ uyển chuyên và nặng chừng 317 kilôgam. Hải cẩu râu xồm mới chỉ được nghiên cứu gần đây vì chúng sống khá cô quạnh, lại chạy cực nhanh, khi có động là bổ nhào xuống nước con người khó mà theo kịp.
Không giống các loài hải cẩu khác chăm sóc con trên những khối băng cứng và lớn, hải cẩu râu xồm lúc nào cũng tất bật vì vậy chúng đặt con ở đâu cũng được, thường là trên các phiến băng nhỏ trôi nổi, chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Hải cẩu con bù lại khỏe hơn các bạn; chúng có thể nhẩy tùm xuống nước mà bơi, những con non chưa đến một tuần tuổi đã lặn sâu được tới 76 mét trong năm phút. Nhờ khả năng này, hải cẩu râu xồm đều dễ dàng thoát khỏi nanh vuốt của kẻ thù. Các chú hải cẩu con hay hiếu kỳ thường túm tụm bên mé các tảng băng sơn mà nhìn ngó, triêu ngươi lũ gấu trắng.
Hải cẩu non khi sinh ra đã nặng tới 30 kilôgam và trong vài tuần đã lên tới 95 kilôgam. Vì vậy, thoạt nhìn hiếm khi nghĩ chúng chỉ là “trẻ con”. Ngay khi sinh, hải cẩu con đã rất nghịch, chúng dành cả ngày chỉ để tập phá băng và lặn. Để bù đắp năng lượng mà con non nghịch, hải cẩu bố mẹ phải kiếm cá suốt ngày, và để con lại ở những chỗ không mấy an toàn. Hải cẩu con cần nuôi từ 16 đến 24 ngày, chúng ăn cả ngày lẫn đêm, cứ ba tiếng một lần, nhờ thế lớn kinh khủng.
Hải cẩu bố mẹ bơi nhanh và liên tục được là nhờ có bốn cái hạch ở cổ giúp giữ ấm và thở khỏe. Hai con vật sẽ lặn xuống tìm thức ăn cho các con ngay khi con đói. Sữa của hải cẩu giống hệt sữa bò đã khuấy với dầu gan cá, có tới 50% chất béo và là một loại thuốc an thần tuyệt diệu cho con non đang bú, nó sẽ bú chừng bảy lít/ngày và bú xong sẽ tăng thêm 3,5 kilôgam/ngày, đủ sức chống chịu cái lạnh, mà ngủ thiêm thiếp mặc cho xung quanh nguy hiểm.
Để gần được những chú hải cẩu non, phải giả như bạn bè hoặc tiếng kêu của bố mẹ chúng. Tuy nhiên, “đứa bé nào cũng rất thông minh và bằng chứng là nó phát hiện khách lạ rất nhanh và ríu nít gọi mẹ hay nhảy tõm xuống rước. Khi lớn lông chúng sẫm mầu hơn, khi khô có ánh hồng. Con đực trưởng thành hát rất hay, du dương xa tới vài kilômét.
Khoa học hiện nay đã cho phép tìm hiểu về cuộc sống và cách cư xử của hải cẩu râu xồm, ví dụ như buộc thẻ điện tử vào lông con vật, cái thẻ có chất huỳnh quang và một máy vi sóng giúp phát hiện các độ sâu; cứ 10 giây sẽ gửi hình ảnh về trung tâm xử lý, nhờ thế ta vẫn liên lạc được với chúng.
