TUYỆT MỸ KỲ QUAN KIẾN TRÚC TRUNG ĐÔNG

Kỳ quan kiến trúc Trung Đông và cũng là của cả thế giới

Trung Đông, dải đất nằm phía đông và đông nam của bờ biển Địa Trung Hải, từ xa xưa đã là một trong những nơi phát xuất ra các nền văn minh đầu tiên của nhân loại và có những công trình kiến trúc uy nghi được ngợi khen là kỳ quan thế giới. Vào thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên, cách đây 4000 năm, người xưa đã lập nên một danh sách gồm bảy kỳ quan được cả thế giới yêu thích thì có đến ba kỳ quan ở Trung Đông, đó là kim tự tháp Khufu, vườn treo Babylon và ngọn hải đăng Alexandria. Không chỉ là cảnh đẹp tráng lệ, chúng còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa, chính trị và tôn giáo các nước suốt hàng nghìn năm. Tuy nhiên, đến nay chỉ còn kim tự tháp là tồn tại, trải qua 40 thế kỷ, cho thấy kỹ thuật ngày xưa đã đạt mức độ tiên tiến và tình yêu, sự tôn sùng mạnh mẽ đối với các kiệt tác kiến trúc giúp công trình đứng vững theo thời gian.

Kim tự tháp Khufu hay Cheops Ai Cập

Con người sợ thời gian, thời gian lại sợ kim tự tháp (Thành ngữ Arab). Trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại, kim tự tháp Giza ra đời sớm nhất, cũng tồn tại lâu nhất. Kỳ quan này có tên thực là kim tự tháp Khufu hay Cheops, nằm trong quần thể ba đại kim tự tháp cùng nhiều tháp vệ tinh nhỏ mà nó là trung tâm cao và lớn nhất tọa lạc tại thành phố Giza, kế cận với Cairo, thủ đô Ai Cập. Theo tiếng Hy Lạp, từ kim tự tháp xuất phát từ chữi pyr nghĩa là ngọn lửa hoặc pyra – dàn hỏa táng, ý chỉ một ngôi mộ và chữ middos – sự đo đạc, do vậy là một ngôi mộ hết sức to lớn.

Người Ai Cập xưa vốn có truyền thống xây kim tự tháp làm nơi an nghỉ cho vua (pharaoh-) người được toàn dân tôn xưng là thánh thần. Kim tự tháp Giza được dựng cho pharaoh Khufu thuộc triều đại thứ tư cách đây 4560 năm và do hàng triệu nghệ nhân và nô lệ xây đắp suốt 20 năm. Công trình gồm 2,3 triệu phiến đá, mỗi tảng nặng từ hai đến 30 tấn, chắp thành hình tháp nhọn, bốn mặt. Từ đế tới đỉnh cao 145,75 mét, nặng khoảng sáu triệu tấn, bên ngoài trát vữa láng bóng song qua hàng trăm năm vữa đã bong ra để lộ các hàng gạch đỏ au. Mỗi cạnh kim tự tháp đều chỉ một hướng như hướng chính bắc, chính nam, chính đông hoặc chính tây, trong đó cửa vào bên trong chỉ hướng bắc. Sau cánh cửa này là một mê cung rất phức tạp với nhiều hành lang, lãm phòng trưng bày các bảo vật cùng châu ngọc trước khi đến nơi đặt quách của nhà vua nằm ở trung tâm và chỉ có một lối vào duy nhất. Cái quách được bảo vệ bởi những bức tường cao bằng đá đỏ kín mít đến nỗi một con muỗi cũng không bay lọt, và được tin có các cơ quan bí mật khi bị động sẽ phóng ra những luồng khí độc, tên, lửa giết chết kẻ xâm nhập. Với niềm tin linh hồn có thể trở về thân xác khiến người chết sống lại sau khi đã sang bên kia thế giới tiếp diện thần thánh, người xưa đã đặt quách của nhà vua sao cho từ trên đỉnh tháp ánh sáng thiên thần  có thể dẫn đường và bảo vệ ngài. Ngoài vẻ đẹp uy nghi, lộng lẫy kim tự tháp Giza cùng nhiều kim tự tháp nói chung của Ai Cập, ẩn chứa khá nhiều điều huyền bí. Đầu tiên là tuổi thọ vĩnh hằng, cho phép nó là một công trình tồn tại lâu nhất trái đất. Thứ nữa là bề mặt có thể phản chiếu ánh nắng, ánh trăng giúp tàu thuyền dễ dàng đi lại trên sông Nile cách đó hàng chục kilômét. Và đặc biệt, đến giờ người ta vẫn chưa phát hiện ra một xác ướp nào trong kim tự tháp, dường như các quách ở đây chỉ mang tính biểu tượng về quyền năng hay một vị thế thần thánh tối cao; các xác ướp được tìm thấy đều ở các ngôi mộ trong thung lũng các vị vua.

Vườn treo Babylon

Vườn treo Babylon xuất hiện cách đây 2600 năm. Theo ghi chép của thầy tu Babylon Berossus và sau này của sử gia Hy Lạp Herodotus 2450 năm trước và nhà địa lý Strabo 2100 năm trước thì ở bờ đông của sông Euphrates, nam thành Baghdad, mà nay là tỉnh Babil, Irag, có một vị vua hùng mạnh tên là Nebuchadnezzar II (605- 562 tCN) trị vì vương quốc Babylon. Trong thời đại của ông, đất nước rất thịnh vượng với những tòa thành kiên cố, bao quanh là những tường rào dài 90 kilômét, cao 100 mét, dày 24 mét. Cùng nhiều đền thờ, cung điện nguy nga và đẹp kỳ diệu là khu vườn treo Babylon vượt cao trên mọi công trình mà từ xa bên sông Euphrates du thuyền có thể ngắm nhìn mọi góc. Vào năm 605 tCN, Nebuchadnezzar II thay phụ vương Hammurabi lên lãnh đạo đất nước. Cảm mến hoàng tử trẻ, vua Medes đã gả con gái yêu là công chúa Amyitis cho chàng và lập nên một liên minh thắm thiết. Khi sống ở Babylon, mặc dù được chiều chuộng, hoàng hậu Amyitis thường xuyên không vui, khuôn mặt buồn bã. Thì ra, nàng nhớ quê hương- Nơi có những quả núi trùng điệp, bốn mùa xanh tươi, chim ca ríu rít, muông thú nô dỡn. Ở đây đất đai phẳng lỳ, khô cằn, trời nắng như lửa, vì khí hậu không thuận cơ thể nàng ngày thêm suy kiệt. Để hoàng hậu khuây khỏa, vui vẻ trở lại, nhà vua đã cho xây một khu vườn hoàng gia giống hệt cảnh quê Amyitis, dưới dạng những ngọn đồi cao lô xô, rậm rạp. Vì thế có cái tên vườn treo hay thượng uyển; từ treo không có nghĩa là treo bằng dây mà là sự vắt vẻo trên lan can hoặc các tầng mái cung điện

Vườn treo Babylon và hệ thống tưới tiêu

Vườn treo Babylon hiện lên như một tòa tháp khổng lồ, với những mái vòm và chống đỡ ở dưới là các hàng cột đá hoặc gạch nung gối đầu trên bệ tượng. Ở mỗi tầng chia nhiều ô đất trồng vô số cây và nuôi nhốt hàng chục loài động vật quý hiếm. Do thời tiết ít mưa, nô lệ được lệnh đào mương dẫn nước từ sông Euphrates cách thành cả ngày đường về tưới cho vườn. Đầu tiên, họ làm một hồ to dưới chân tháp chứa nước, sau đó dùng hai bánh xe lớn liên kết bằng dây xích gắn các thùng gỗ múc nước từ dưới hồ kéo lên đổ vào các mương chạy quanh co cho chảy từ cao xuống thấp tưới mát các tầng cây. Vào thế kỷ 2 tCN, khi quân đội Hy Lạp chiếm đóng Babylon, họ vô cùng kinh ngạc trước phong cảnh trữ tình, diễm lệ – Mặc dù ngoài kia nắng cháy song ở đây không khí mát dịu, thơm ngát và có tiếng suối chảy như nhạc. Vườn treo Babylon khoe sắc trong suốt 500 năm thì bị nhấn chìm bởi một trận động đất. Đến nay, sau mọi cố gắng khảo cổ quanh thành Baghdad, khoa học vẫn chưa tìm thấy một dấu vết nào, dẫu là một viên gạch có hình ảnh của khu vườn.

Hải đăng Alexandria

Thành phố Alexandria Ai Cập được Alexander Đại đế thành lập năm 332 tCN và qua nhiều triều vua Ptolemy, trở thành một trung tâm văn hóa khoa học và thương mại của cả thế giới. Không những thế, nó còn có một công trình đóng vai trò hết sức to lớn trong đời sống dân biển, đó là ngọn hải đăng Alexandria, còn gọi đèn biển Pharos. Do ngày xưa gió to sóng dữ, nhiều xoáy nước, đá ngầm khiến việc đi lại trên biển gặp nhiều khó khăn, nhờ ngọn đèn biển với những đống lửa lung linh tỏa sáng trên đỉnh tàu thuyền có thể đi lại thuận lợi, dễ dàng hơn. Hải đăng Alexandria được xây dựng trên một hòn đảo nhỏ xa bờ tên là Pharos cạnh hải cảng Alexandria có vị trí thông thương tốt tạo ra hai hải cảng-một cho giao thông trên sông Nile và một cho thương vận Địa Trung Hải. Cây đèn được khởi công từ thời Ptolemy Soter, một tướng quân trong quân đội Alexander, sau chiến tranh đã tiếp quản Ai Cập, người ta đã xây đèn này và khánh thành dưới thời con ông là Ptolemy Philadephus năm 285 tCN. Qua tấm khắc ở dưới chân tháp đèn thì Sostratus đảo Cnidos là kiến trúc sư của công trình này. Cái tên Pharos là để vinh danh Ptolemy Soter và phu nhân Berenice.

Hải đăng Alexandria và vị thần biển

Dựa vào các ghi chép của những tàu biển Arab xưa, các sử gia và nhà khảo cổ đã phần nào liên tưởng được về hình dạng ngọn đèn. Một miêu tả tốt nhất là từ nhà du lịch Arab Abou-Haggag Al-Andaloussi khi thực thăm ngọn đèn năm 1166. Theo đó ngọn đèn được làm từ chì, ốp đá trắng. Từ đế lên đỉnh cao 160 mét tương ứng với tòa nhà 40 tầng. Cây đèn biển gồm ba phần, đầu tiên là một đế vuông cao 5,9 mét, với nhiều phòng dành cho quan coi đèn. Phần thứ hai cũng là khối trung tâm là một tòa nhà bát giác dài 18,3 mét cao 27,45 mét và cuối cùng là tháp đèn hình tròn thon dần trên tột đỉnh đặt một pho tượng thần biển Poseidon giơ cao cây đinh ba cao 7 mét. Từ chân núi phải đi qua một con dốc quanh co mới đến cổng hải đăng. Để lên các tầng cũng phải qua những đoạn cầu thang hình xoắn ốc. Hàng ngày, nô lệ sẽ dùng thang dây và đi qua cầu thang xoắn ốc để vận chuyển nhiên liệu lên tháp đèn. Tại phòng đốt lửa hiệu, trên cùng của tháp, họ chất những đống củi lớn đã nhúng qua  dấu hoặc phân bò rồi đốt cháy và cho chiếu qua gương bằng thép bóng dùng để khuyếch đại ngọn lửa thành những luồng ánh sáng có thể chiếu xa 56 kilômét. Tàu bè theo ánh đèn có thể cập bến an toàn. Ngoài giúp định vị trên biển, cây đèn cũng là điểm tham quan lý thú. Du khách có thể đứng trên ban công của tòa bát giác ngắm cảnh thành phố. Không nghi ngờ rằng đèn biển Pharos là một đỉnh cao của nền khoa học kỹ thuật bấy giờ và góp phần không nhỏ giúp tàu thuyền cập bến Ai Cập trong suốt 17 thế kỷ cho đến khi bị tàn phá động đất năm 1326. Vào thế kỷ 15, dưới thời vua Mameluke một hải cảng mới của hồi giáo đã được dựng trên chính nền móng Pharos, đó là cảng Kait Bey. Vào các năm 90 của thế kỷ 20, người ta đã tiến hành một số đợt khảo quật dưới biển ở đây và chỉ cần xuống sâu 80 mét đã phát hiện ra hàng nghìn khối đá của Pharos. Là một trong sáu kỳ quan thế giới cổ đại bị biến mất song hải đăng Alexandria là cái xây dựng cuối cùng cũng biến mất cuối cùng. Thật kỳ diệu, người ta đã dùng hình mẫu đèn biển này làm nên hàng vạn ngọn đèn biển ngày nay trên khắp thế giới, từ các cảng biển Địa Trung Hải đến Tây Ban Nha. Cái tên Pharos cũng đi vào nhiều ngôn ngữ chỉ đèn biển như Pháp là phare, Tây Ban Nha là faro.

Kim tự tháp Ai Cập

Vào năm 1979, kim tự tháp Ai Cập đã được UNESCO ghi nhận là Di sản thế giới. Từ công trình này, các nhà nghiên cứu cũng tìm ra và xét công nhận di sản nhân loại cho nhiều công trình kiến trúc Trung Đông. Qua các lần khai quật, người ta thấy rằng từ xa xưa, sau thời các kim tự tháp, vườn treo hay đại đèn biển cũng có nhiều kiến trúc hoành tráng song chưa được ghi nhận và chỉ được khám phá lại vào thời hiện đại. Phần lớn là các quần thể đền đài, thành lũy độc đáo có tuổi đời trên dưới nghìn năm đến hơn 2000 năm. Đó là Shibam- thành phố của các ngọn tháp sừng sững, trung tâm của con đường caravan bán gia vị và trầm hương trên cao nguyên nam Arabia- di sản thế giới năm 1982, Baalbek- thành phố mặt trời với các tàng tích thời La Mã được bảo tồn nguyên vẹn ở Lebanon – di sản thế giới năm 1984, Petra- thành phố được đẽo vào trong lòng đá đỏ trên sa mạc miền nam Jordan- di sản thế giới năm 1985,
Mada, in Saleh- cũng là một thành phố bằng đá lớn thứ hai chỉ sau Petra và còn là kiến trúc thời tiền Do Thái cũng như của nền văn minh huyền bí Nabatean – di sản thế giới đầu tiên ở Saudi Arabia năm 2008, Karnak- quần thể đền thờ thần gió Amun- một vị thần lớn nhất trong thần thoại Ai Cập,  Crac des Chevalier lâu đài của những người Kurd sau đó trở thành nơi ở của quân thập tự chinh ở Syria,…

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
error: Content is protected !!