Từ xa xưa, dân gian các nước đã biết nung gạch để xây nhà và cầu đường. Người ta thấy rằng, dù đơn sơ- mộc mạc, nhiều cây cầu gạch vẫn trụ vững rất tốt từ thế kỷ này qua thế kỷ khác. Và thậm chí còn có một số công trình rất vĩ đại, đứng sừng sững thách thức cùng thời gian. Tựu chung, những cây cầu đường sắt, đường thủy bằng gạch bao giờ cũng là cầu có sức lâu bền nhất và vì đường sắt, chính quyền cũng hay cho xây cầu gạch hơn nhiều cầu khác, ví dụ như ở Anh, trong thế kỷ 18- 19 có tới 40% các cây cầu nhịp cuốn đều được làm từ gạch, mà đến nay hãy còn tồn tại khoảng 1.000 công trình.
Hiện giờ, cầu gạch khổng lồ nhất thế giới là Cầu Goltzsch Viaduct tại bắc Saxony- Đức. Ra đời năm 1851, băng qua thung lũng sông Goltzsch, nó dài tới 574 mét (m), rộng 23 m, cao 78 m, với 98 vòm, bốn tầng và tầng thượng có đến 29 nhịp cuốn cùng một sải rộng hơn cả, tới 30,9 m. Người Đức gọi là nó Goltzschtalbrucke, nghĩa là cầu cạn của con sông cùng tên và là một công trình đường sắt cao nhất hành tinh. Cụ thể, cây cầu nối giữa Mylau và Netzschkau, cách phía tây thị trấn Reichenbach im Vogtland bốn kilômét, và được xây từ năm 1846 tới 1851 để làm một phần của tuyến đường sắt xuyên Leipzig, Zwickau, Plauen ở bang Saxony với Hof và Nuremberg ở Bavaria. Kiến trúc sư của nó là Johann Andreas Schubert, và ông đã tận dụng nguồn đất sét (loam) rất dư thừa tại địa phương để làm gạch xây cầu, thay vì dùng đá như thường lệ. Công nhân đã lập nên 20 lò gạch, lấy sét tại chính sông Goltzsch để sản xuất ra hơn 26 triệu viên gạch hồng và biến chúng thành một cây cầu hùng vĩ – kỳ quan của thế kỷ 19- 20, vì mặc dù bị quân phát xít Đức phá hủy trong Đại Thế Chiến II, nó vẫn giữ nguyên được vẻ đẹp tráng lệ. Nhìn ở góc độ nào, cây cầu cũng lộng lẫy, duyên dáng nhờ màu đỏ thắm của gạch, của những nhịp cuốn đều đặn và chạy dài như chân rết.
Chỉ cách nó 10 km về phía nam, cũng có một cây cầu đồ sộ không kém là Cầu Elster Viaduct- Elstertalbrucke. Tuy chỉ dài bằng một nửa Goltzschtalbrucke, song nó cao tới 68 m và gồm hai tầng được dựng từ 12 triệu viên gạch lửa. Cây cầu này cũng mang trên mình tuyến đường sắt Leipzig-Hof line giữa Saxony và Bavaria, và cùng xuất hiện vào năm 1851 trên thung lũng sông White Elster, với chiều dài 279 m và từ 12.323.000 viên gạch, do 800 thợ đóng. Phục vụ ngót một thế kỷ, song tới những ngày cuối cùng của Đại Thế Chiến II, nó cũng bị quân Wehrmact phá hoại, làm hai nhịp cầu sụp đổ, đồng nghĩa với những chuyến tàu từ phía tây nam chỉ có thể đi xa lắm tới Rottis và từ phía đông bắc đi tới Jocketa. Sau khi được nối trở lại vào năm 1950, Elstertalbrucke đã tái hoạt động và đến nay ngày nào cũng nghe thấy những tiếng xịch xịch, ào ào của những đoàn tàu Vogland Bahn chở người và hàng qua lại hai chiều. Cùng với đường sắt, tàu hỏa cũng đi xuống thấp và đi qua đường sắt thung lũng Elster nằm ở dưới chân cây cầu đôi tầng này.
Cầu Elstertalbrucke thường được xem là cầu gạch lớn thứ hai thế giới. Song danh hiệu này cũng thuộc về Cầu Ouse Valley Viaduct, một công trình của đường sắt London & Brighton- Anh. Tọa lạc trên sông Ouse giữa hai thị trấn Haywards Heath và Balcombe ở Sussex, nó còn xuất hiện từ năm 1841 và dài tới 500 m, nhưng chỉ gồm 11 triệu viên gạch. Đây cũng là một công trình có sự pha trộn tuyệt vời giữa ba màu: đỏ, đen (xám) và trắng, với màu đỏ và đen là gạch, còn trắng là vôi vữa, tạo nên các mảng đối lập kỳ ảo và cùng với những nhịp cuốn đảo ngược (trên cong- dưới cong làm thành các hình trứng trong các chân cầu) cho ra một kiến trúc lạ mắt, trang nhã nhất châu Âu. Đại thể, cây cầu cao 29 m, có 37 sải hình bán nguyệt, mỗi sải rộng 9,1 m và tại mỗi chân cầu lại có một vòm cung mà khi nhìn từ đầu này sang đầu kia lập thành những hình ô van đồng tâm hấp dẫn. Cầu kỳ như vậy, ngay cả nguyên liệu xây dựng của nó cũng được chở từ Hà Lan sang. Mở cửa vào năm 1841, song một năm sau nó mới chính thức thông làn và cùng phong cảnh đồi núi trập trùng, xanh tươi của Sussex lọt vào trong nhiều tranh ảnh, bưu thiếp du lịch của Anh. Mỗi ngày, cây cầu đón tiếp khoảng 110 đoàn tàu trên tuyến Brighton Main Line. Ngoài tên Cầu đường sắt thung lũng Ouse, nó còn mang tên Balcombe Viaduct và là công trình xếp hạng cấp hai, cần được tu bổ, giữ gìn bởi Quỹ Di sản Anh.
Là nơi khai sinh của tàu hỏa, Anh như đã nói có rất nhiều cầu gạch mang đường ray, mà về cầu phẳng và rộng nhất châu lục là Cầu đường sắt Maidenhead trên sông Thames, giữa Maidenhead, Berkshire và Taplow, Buckinghamshire- England. Nó cũng là một cầu gạch cổ nhất nước này vì đã khánh thành từ năm 1838 và hoạt động năm 1839. Cầu dài 235 m, rộng 16,7 m, cao 9,8 m với bốn nhịp, trong đó có hai nhịp cuốn lớn, hình bán e líp dài 39 m và chỉ cao 7,4 m nên là những nhịp cuốn “thẳng” nhất trên thế giới, cũng là nhịp cuốn to nhất được xây từ gạch. Mới đầu, nó chỉ có một cặp đường ray, song tới năm 1861 thì tăng gấp đôi và từ đó liên tục chở tàu cho Great Western Main Line. Do bắc qua một đoạn sông hẹp tại Maidenhead, dưới chân cầu có cả đường thủy cho tàu thuyền nhỏ và đường bộ cho xe cộ. Nhìn từ đâu, nó cũng uy nghi vì hai nhịp cuốn ở giữa chỉ hơi cong một chút, tăng cảm giác về một cây cầu dày dặn bằng gạch và không chỉ đậm nét, cường tráng, còn rất nên thơ, xinh đẹp.
Cũng là một cầu gạch rộng nhất thế giới, song Cầu Kuldiga tại Latvia lại là cầu đường bộ và bằng gạch lâu đời nhất nước này, tới gần 150 năm. Vào năm 1874, lúc mới khánh thành, nó đã được xem là cầu đường bộ dài nhất châu lục và cầu hiện đại nhất được dựng theo tiêu chuẩn bấy giờ, với một mặt đường rộng đủ để cho hai xe ngựa đối diện nhau tránh né. Cây cầu dài gần 165 m, rộng 8 m, có bảy nhịp và trên các vòng cung lẫn lan can đều được trang trí gợi cảm. Để thắp sáng, tại đây còn thấy những cột đèn bằng thép, đứng trên đế hình con cá mà vào đêm hoặc trời đông u tối mới tỏa sáng huyền ảo. Tọa lạc trên sông Venta, nó được thiết kế dựa theo một cây cầu ở trên sông Moselle- Đức thời La Mã và cho uyển chuyển, nhẹ nhàng hơn. Vào năm 1998, công trình đã trở thành bảo vật quốc gia và địa điểm du lịch lừng danh, nơi hàng năm vào giữa hè du khách thường thức đêm đi dạo ngắm cảnh, và đặc biệt cực kỳ đông người- đông xe từ năm 2008 khi mặt đường được trải nhựa để di chuyển nhanh và an toàn hơn. Nó cũng được quay trong khá nhiều bộ phim, như phim Trò tinh quái của Emil (Emila nedarbi), khắc họa các hoạt động vui vẻ, nồng nhiệt. Ai cũng thích cây cầu này vì màu cam rực rỡ, nhất là khi hoàng hôn buông xuống, và mùa đông nổi bật ấn tượng trên nền tuyết trắng.
Suiro-kaku Kiều ở ngôi đền Nanzen-ji (Kyoto, Nhật Bản) lại là một cây cầu dẫn nước- Aqueduct độc đáo của cố đô Xứ sở mặt trời mọc. Vào năm 1890, người ta đã xây nó để dẫn nước của con kênh Biwako (hay sông Biwakososui) từ Otsu tới Kyoto, phục vụ sinh hoạt. Dòng nước này có ý nghĩa rất quan trọng đối với Kyoto, vì vừa là nước tưới tiêu, vừa là nước dùng, phục vụ phát điện và đường thủy. Đáp ứng nhu cầu ấy, một kiến trúc sư trẻ là Sakuro Tanabe lúc đó mới 22 tuổi đã đứng lên đảm nhiệm công trình và xây dựng theo lối phương Tây, cụ thể là của La Mã. Tất cả các công trình cầu đường bằng gạch của thời Minh Trị bấy giờ đều do người nước ngoài xây, song riêng công trình này lại do một người Nhật Bản làm, nên nó cho thấy khả năng nắm bắt công nghệ rất tuyệt vời cùng trí tuệ, tính kiên cường, tự tôn của người Nhật Bản. Cây cầu ra đời dài tới 93,2 m, rộng 4 m, cao 14 m và mỗi giây tuôn chảy hai tấn nước, nhờ thế cung cấp tới 97% nhu cầu nước dùng của thành phố. Không chỉ cấp nước, Cầu Suiro-kaku còn là thắng cảnh của Kyoto vì có sự giao hòa, mật thiết với phong cảnh đền đài, cây cối, sông nước xung quanh. Bốn mùa, nó đều đẹp, song ngoạn mục nhất là vào thu khi chìm nổi trong muôn lá phong đỏ, hồngrười rượi. Dọc theo cây cầu là một khu vườn thiền, trồng rất nhiều loài cây, đặc biệt là phong- mùa thu rũ đỏ cực quyến rũ. Dưới chân cây cầu lại là con đường dẫn lên đền, tập trung mỗi ngày hàng trăm du khách đến để vui chơi- chụp ảnh.
Tuy hôm nay, ở nhiều nơi vẫn còn xây dựng những cây cầu đa dạng từ gạch, song vì có nhiều chất liệu mới pha sẵn- đúc sẵn, trên thế giới những cây cầu gạch đã thưa thớt dần. Và những công trình nào còn tồn tại đến giờ đều là những di sản kiến trúc để đời, phản ánh vẻ đẹp tinh tế, giản dị cũng như lâu niên, trầm mặc, cổ kính của loại cầu đặc sắc này.
