Ngoài những pháo đài trên cạn, thì ở ngoài biển nhiều khi cũng bắt gặp những đồn lũy lênh khênh hoặc cao vời, với những bức tường bao để chống lại các thế lực ngoại xâm và cướp bóc trên biển. Tùy địa phương, điều kiện vật chất, nhân lực mà người ta làm nên những pháo đài có chất liệu, hình dạng khác nhau. Đến nay, do nạn hải tặc đã được giải trừ nên nhiều công trình phòng hộ đã thôi không còn hoạt động nữa, hoặc là chuyển giao mục đích, trở thành các đài quan sát, ngắm cảnh, nghỉ dưỡng, phục vụ du lịch.
Một trong những pháo đài vẫn có sức hút như vậy là tổ hợp bảy pháo đài Red Sands, cách bờ biển Minster, đảo Sheppey, Thames Estuary Anh gần 10 kilômét (km). Chúng đã xuất hiện từ năm 1943 để chống trả sự tấn công của cả không tặc lẫn tàu chiến nhanh trong Đại Thế Chiến II, và tới cuối chiến tranh này thì bị bỏ trống bởi quân đội, tuy rằng thỉnh thoảng vẫn có người ra thăm.
Nhìn tổng thể bảy đài pháo trông giống hệt bảy cái giàn khoan hay bảy con bạch tuộc trên biển. Tất cả đều được làm từ bê tông sắt thép, nối kết bằng những cây cầu treo. Chúng được dựng trên cửa sông Thames London, Anh là để triệt hạ mọi máy bay có ý định oanh tạc London trong Đại Thế Chiến II, và cụ thể đã bắn rơi 22 máy bay của Đức, 30 tàu chiến mà chỉ trong một thời gian ngắn, gần 80 ngày đêm. Tuy rằng ngăn cản được máy bay giặc song cho đến khi mọi thứ chấm dứt thì đã có hơn một triệu ngôi nhà tại London đã bị phá hủy.
Trong thời chiến, luôn có hơn 100 lính hải quân túc trực bên năm khẩu pháo và quan sát bầu trời không ngủ. Sở dĩ có bảy tháp mà chỉ thấy năm súng cối là vì có hai tháp làm nhiệm vụ chiếu đèn và kiểm soát. Vào năm 1959, hải quân đã định dỡ bỏ pháo đài Red Sands, song vì chi phí tốn kém nên họ đành dừng lại. Thật may mắn, tới đầu thế kỷ 21, nhờ một tổ chức, di tích lịch sử cũng như công trình kiến trúc độc đáo này mới được bảo tồn.
Cũng thuộc về Anh, song không vắng vẻ mà còn là một khu vui chơi sầm uất là pháo đài No Man, s Fort (chẳng của riêng ai), trên eo biển Solent và trong quần thể pháo đài Palmerston, cách đảo Wight 2,2 km, ra đời năm 1880 để bảo vệ Portsmouth. Công trình được kiến thiết rất cầu kỳ với hình tròn như một cái mâm trên biển, gồm đa tầng và bên trên có nhiều nhà cửa, bể bơi, sân bay… Chi phí để xây dựng lúc bấy giờ lên tới 462.500 bảng Anh, tức là ngang với 67.783.806 đô la Mỹ trong thời lạm phát năm 2010. Lý do để nó đắt đỏ như thế là vì phải xây dựng suốt 20 năm và có tầm chiến lược bên bờ biển nhằm phòng chống những mối đe dọa từ Pháp.
Công trình có đường kính tới 60 m, chứa được 80 đội quân và 49 khẩu pháo. Tuy nhiên, nó chưa hề đụng độ với quân Pháp nên vẫn mới nguyên dù rằng đã từng là một bốt ngăn cản tàu ngầm trong Đại Thế Chiến I và máy bay trong Đại Thế Chiến II. Vào năm 1963, pháo đài No Man, s For đã được Bộ Quốc phòng Anh nhượng lại cho một doanh nhân và cuối thế kỷ 20 trở thành một dịch quán sang trọng, với một nhà hàng, một khách sạn 21 giường, một khu vườn trên mái và hai sân đỗ trực thăng… Vì vẻ đẹp hùng tráng, lộng lẫy, công trình thời Victoria này cũng là trường quay của nhiều bộ phim bom tấn.
Ai cũng biết tới pháo đài Jefferson, Florida- Mỹ vì nó trông giống một tòa thành lục giác của một thành phố duyên hải, bên ngoài còn có các hào sâu, doi đất để làm bến đậu. Có thể nói công trình hết sức xinh đẹp, vậy mà lại bị bỏ không từ lâu, do không phải bảo vệ cái gì nữa. Tọa lạc ở hạt Monroe, cách phía tây hòn đảo Key West 110 km, nó là một pháo đài bằng gạch lớn nhất Tây Bán Cầu, với hơn 16 triệu viên gạch đỏ, và thời gian thi công cũng tới 30 năm. Pháo đài Jefferson được dựng lên để bảo vệ một trong các vùng nước sâu chiến lược của Bắc Mỹ, cũng như làm một bến tàu cho những con tàu tuần tiễu eo biển Florida và vịnh Mexico. Vào năm 1846, nó đã được khởi công để chặn đứng cướp biển Caribea, với hai tầng gạch đều có lỗ hỏa châu và đến nay đã rộng tới 6,5 hecta mà vẫn chưa hoàn thành.
Tuy gọi là pháo đài song Murud-Janjira là một lâu đài ở quận Maharastra- Ấn Độ. Công trình đã có một lịch sử rất oai hùng, khi vừa là nơi ở của các vị vua Nuwab, vừa là một thành trì kiên cố, bất bại và duy nhất trên bờ biển phía tây, bất chấp nhiều lần bị quân Hà Lan, Bồ Đào Nha, Maratha, công ty Đông Ấn tấn công. Ra đời vào thế kỷ 15, trên một núi đá hình ô van ngoài biển Ả Rập, Murud-Janjira ngay lúc đó đã được xem là một pháo đài hải dương mạnh nhất Ấn Độ. Nó từng có đến 572 khẩu pháo, mà hiện giờ chỉ còn ba khẩu. Tuy nhiên, pháo đài vẫn giữ được 19 ụ công sự và nhiều dinh thự, nhà thờ và tăng đựng nước lớn. Bên ngoài cổng chính, có một bức tượng hổ vồ voi và nhiều bức tranh điêu khắc tinh xảo, cho thấy uy lực ghê gớm.
Pháo đài Pampus cũng là một hòn đảo nhân tạo và đồn lũy tuyệt đẹp cuối thế kỷ 19 trên hồ Ijmer, ngoại ô Amsterdam- Hà Lan. Nó đã ra mắt từ năm 1895, làm một phần trong hệ thống phòng thủ, bảo vệ lối vào vịnh IJ và cảng Amsterdam, với chiều dài lên tới 205 m, rộng 164 m và diện tích 0,03 km2. Mọi sự bắt đầu vào năm 1887, khi người ta quyết định xây một hòn đảo, cũng là một thành trì sừng sững. Để có nó, đầu tiên phải đóng 3.800 cái cọc xuống lòng hồ và đổ 45.000 mét khối cát vào đó. Kế tiếp, xây những bức tường gạch và bê tông, tạo nên một pháo đài hình ô van với tòa nhà chính cao ba tầng.
Tầng trệt là nơi ở của binh lính, nhà bếp, nhà tắm, kho chứa thuốc nổ- máy móc, điện tín và sơ cứu. Về phía bắc và nam có những đường hầm nối kết với nhau, và đặc biệt là một hào khô sâu hơn 8 m để cản trở quân địch… Do sự cầu kỳ, công phu phải mất tới tám năm và 800.000 phăng để kiến thiết công trình. Trong Đại Thế Chiến I, nó đã bảo vệ được thành phố, song đến Đại Thế Chiến II bị quân Đức chiếm giữ song không phá. Nhờ bề dày lịch sử và vẻ đẹp kỳ lạ, vào năm 1996 pháo đài đã được phong danh hiệu Di sản UNESCO và hiện nay hàng năm đều mở cửa đón khách.
Tọa lạc ở giữa đảo Ile-d,Aix và Ile d,Oleron trên eo biển Pertuis d,Antioche bên bờ biển phía tây của Pháp, pháo đài Boyard cũng có hình ô van song thuôn dài hơn, và mặc dù xuất hiện từ thế lỷ 17 nhưng tới thế kỷ 19 dưới thời Napoleon Bonaparte, nó mới đi vào hoạt động khi được xây mới. Cụ thể công trình có thiết kế như một sân vận động, với chiều dài 80 m, rộng 40 m, cao 20 m, và ở chính giữa có một sân lớn, để binh lính vui chơi từ các gian phòng bên cạnh sang. Tổng cộng pháo đài có thể chứa 250 người. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nó đã không được dùng nhiều cho mục đích phòng vệ, và sau năm 1871 cơ bản trở thành một nhà tù quân sự và từ năm 1913 bị bỏ trống, năm 1950 thì là di tích và năm 1990- địa điểm quay nhiều bộ phim và TV Gameshow.
Vừa là một pháo đài trên biển, vừa là một phòng nghiên cứu dịch bệnh và nhiều vi rút nguy hiểm từ năm 1899 tới 1917, pháo đài Alexander trên vịnh Phần Lan, ngoại ô thành phố St. Petersburg là một công trình hết sức quan trọng của Nga. Kể từ khi thành phố này ra đời, vịnh Phần Lan đã giữ một vai trò chiến lược đối với Nga, khiến sa hoàng Peter I lập tức ra lệnh xây nhiều pháo đài lớn trên vịnh, trong đó có pháo đài quân sự đầu tiên tại đảo Kotlin. Kế thừa ông, trong 200 năm sau, người Nga vẫn tiếp tục kiến tạo nên nhiều pháo đài và đặc biệt là pháo đài Alexander vào năm 1838, bằng cách đóng 5.535 cái cọc, mỗi cái dài 12 m vào lòng biển, sau đó đổ cát, bê tông và đá granite, cuối cùng xây tường gạch để làm một thành trì vững chắc, khánh thành năm 1845, mang tên hoàng đế Alexander I.
Về hình dáng, nó khá giống pháo đài Boyard của Pháp nhờ có hình trứng, một khoảng sân chính giữa, cao 90 m, rộng 60 m, ba tầng, tổng diện tích 5.000 m2, chứa được 1.000 người. Tại đây, cũng bố trí 137 khẩu thần công chĩa về tứ phương, và giám sát đường thủy từ biển Baltic tới thành phố. Vào năm 1894, sau khi nhà khoa học Alexandre Yersin phát hiện ra nguyên nhân gây bệnh dịch, chính phủ Nga đã lập ngay một ủy ban về phòng chống dịch và chọn pháo đài Alexander xa xôi để làm phòng nghiên cứu, chế tạo thuốc và Viện Y học thực hành. Hôm nay, pháo đài đã trở thành một bảo tàng và địa điểm du lịch kỳ thú.
Không như các pháo đài khác có hình vuông vức hay tròn trịa, pháo đài Louvois ở Pháp lại có hình móng ngựa và một tháp cao kều sát mặt nước cùng một cầu rút, hào sâu, gợi nhớ tới một lâu đài trung cổ. Tọa lạc trên một quả núi ngập chìm giữa đảo Oleron và châu thổ Marennes nên nó phải được xây nổi và nằm lơ lửng ngay trên nước. Công trình đã ra đời vào năm 1694 để bảo vệ con đường phía nam tới cửa sông Charente, ngăn quân địch đi thuyền ngược sông tấn công căn cứ hải quân Rochefort. Khi nước rút, mọi người có thể đến với nó bằng một cây cầu dài 400 m, nối với đất liền.
Pháo đài Flakfortet của Đan Mạch cũng có hình chữ V và được bao bọc bởi một trường thành trên nước như một chiếc túi. Chưa hết, nó còn được xây tức thì (năm 1914) trong Đại Thế Chiến I và là pháo đài thứ ba và cuối cùng bảo vệ cảng Copenhagen. Công trình nằm trên một hòn đảo nhân tạo giữa Saltholm và Copenhagen, cao 23 m, diện tích 32.000 m2, trong đó 4.000 m2 đã được xây dựng thành nhiều nhà cửa.
Riêng để xây dựng pháo đài này, người ta đã phải đào móng sâu 7 m xuống dưới lòng biển nhằm đảo bảo sự vững chắc do địa chất nơi đây là bãi cát nông. Thêm vào đó, cũng làm một bức tường cao chắn sóng, bảo vệ một vùng lên tới 70.000 m2 cùng 700 thuyền buồm. Tuy nhiên, đến năm 1968, nó đã thôi nhiệm vụ quân sự, và giờ là một chốn giải trí, tiệc tùng, hòa nhạc, du thuyền nổi tiếng của thành phố.
