Đất nước ta có gần 900 loài chim, chia thành 19 bộ, 81 họ chiếm 9% tổng số loài chim của thế giới, trong đó có 33 loài chim cực kỳ quý hiếm. Những đàn chim sống ở khắp nơi song tập trung nhiều nhất tại vùng quê – nơi có không gian thoáng đãng, cây cối um tùm, mặt nước bao la là nơi trú ngụ, nguồn thức ăn dồi dào của chim chóc.
Trong các thứ chim quê, quen thuộc nhất là con cò. Ở Việt Nam, có tới 10 loài cò như cò trắng, cò quăm, cò lửa, cò bợ, cò ma, cò ruồi, cò nghênh, cò ngang… Tuy màu sắc khác nhau nhưng chúng đều có cổ dài, mỏ nhọn, chân cao, con nào cũng gầy còm, ăn chủ yếu cua, ốc, cá, tôm và thường lặn lội ven sông, hồ ao hay ruộng ngập nước. Đa số làm tổ từ tháng tư đến tháng chín, xếp tầng trên các tán cây, bụi ậm kêu cò cọ inh ỏi.
Con cò từ xa xưa đã gắn liền với đời sống dân gian làng Việt, với cảnh thợ cầy thợ cấy hai sương một nắng trên đồng. Ai cũng từng được bà và mẹ ru hời bằng câu hát: Con cò bay lả bay la/ Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng… Qua hình ảnh cò có khá nhiều câu nói ca ngợi cảnh đẹp quê hương: Việt Nam đất nước ta ơi/ Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn/ Cánh cò bay lả rập rờn/ Mây mù che đỉnh Trường Sơn sớm chiều (Việt Nam quê hương ta – Nguyễn Đình Thi). Dân gian cũng mượn hình ảnh cò để ngợi khen những người lao động cần cù, hiền hậu và liên hệ với số phận vất vả của phụ nữ ngày xưa: Con cò mà đi ăn đêm/ Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao/Ông ơi, ông vớt tôi nao/Tôi có lòng nào ông hãy sáo măng/ Có sáo thì sáo nước trong/ Đừng sáo nước đục đau lòng cò con; Con cò lặn lội bờ sông/Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non (Ca dao). Không chỉ có trong thơ ca, hình ảnh của con cò và nhiều loài chim nước từ cách đây hàng nghìn năm đã hiển hiện trên mặt trống đồng và nhiều cổ vật tiêu biểu cho nền văn minh lúa nước của dân tộc.
Cũng như cò, cuốc còn gọi là chim quyên, gà nước có mặt ở nhiều vùng sông nước, đặc biệt là những hồ, ao, chuôm rậm rạp. Có 14 loài mà nổi bật là cuốc ngực trắng với lông lưng xám sẫm, cổ và bụng trắng, đuôi nâu vàng, chân vàng. Sải chân rộng, bơi lội giỏi và chạy nhanh. Khi bị nguy hiểm, chúng lẩn rất nhanh vào bụi rậm, nên khi ví ai có tính hay chạy trốn, người ta lại gọi là cuốc lủi. Các con vật do đó chuyên làm tổ trong hang hốc, lau sậy và ăn các loại tôm cá, sâu bọ và mầm rễ cây trong nước. Vào hè thu, chúng đẻ trứng, mỗi lứa dăm, bảy quả màu trắng đốm nâu, to chừng ba centimét. Sau hai tuần trứng nở, cả chim trống và mái đều lo kiếm mồi nuôi con. Cả ngày chúng đi lang thang, lục lọi trong các lùm cây, bụi rậm, ao bèo, sen và những đồng lúa vừa gặt xong. Nhờ đặc tính chuyên cần của cuốc, từ hình ảnh của con chim lầm lũi, trong văn học có nhiều câu ca hay nói lên sự quan tâm của những người cùng cảnh ngộ: Chim quyên xuống suối tha mồi/ Thấy em lao khổ, anh ngồi sao yên (Ca dao).
Cuốc kêu rất to, vào tinh mơ và chập tối. Cả đàn thường vừa bay vừa kêu từng tràng cu ốc cu ốc. Riêng những con đi lẻ thường kêu đứt đoạn u uất. Dựa vào đó, người xưa thường ví tiếng cuốc với nỗi lòng đau thương của người dân mất nước: Nhớ nước đau lòng con quốc quốc/ Thương nhà mỏi miệng cái gia gia (Qua đèo Ngang – Bà huyện Thanh Quan).
Bên tiếng cuốc nhiều khi còn thấy tiếng ếch, nhái, chẫu chuộc khiến khung cảnh thêm lặng lẽ, cô tịch. Khi cuốc kêu là lúc trời chuyển từ mùa xuân mát dịu sang mùa hè oi ả, vì thế dân gian thường xem cuốc là con vật báo hiệu hè về: Dưới trăng quyên đã gọi hè/ Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông (Truyện Kiều – Nguyễn Du); Ai xui con cuốc gọi hè/ Cái nóng nung người nóng nóng ghê (Ca dao)
Nhỏ bé hơn cuốc nhưng cũng không kém phần đông đảo là bói cá, được mệnh danh là những thợ săn cá siêu đẳng. Có sáu giống gồm 12 loài bói cá. Từ đầu, lưng tới đuôi màu xanh lam, hai má hồng, bụng hồng, mắt nâu, chân ngắn và đặc biệt là cái mỏ dài, nhọn. Chúng làm tổ trong hang hốc, mỗi lứa đẻ dăm trứng màu xanh đốm nâu. Con chim thường đậu một mình, khi phát hiện cá, nó liền khép chặt đôi cánh, chúc đầu và lao từ trên cao xuống sâu dưới nước như một mũi tên, chộp lấy con mới rồi phóng ngược lên, với tốc độ kinh khủng 30 kilômét/giờ. Nếu thuận lợi trong một phút nó có thể bắt được 10 loại cá khác nhau. Miệng cắp ngang con mồi, bói cá bay nhanh về tổ và rất tinh khôn nó cẩn thận xoay chiều con cá cho khỏi hóc rồi mới nuốt.
Góp phần sinh đông trên sóng nước còn phải kể tới vịt trời (chim vịt), có tên gọi này bởi hình thù giống vịt nuôi với cái mỏ tròn, cổ ngắn, lông sặc sỡ, chân đeo màng, dáng đi lạch bạch nhưng sống hoang dã, và ngoài tài bơi lội còn biết bay cao và xa. Ở miền bắc có đến 16 loài vịt trời trong đó nhiều loài cứ mùa đông là bay hàng đàn chắp hình chữ V từ miền bắc tới miền nam tránh rét. Đàn chim thường làm tổ trong cỏ sậy, lấy cỏ bao thành tổ rồi sau đó tự vặt lông để lót ổ. Vịt trời sinh sản nhiều vào mùa nước. Mỗi lứa đẻ mươi trứng màu trắng.
Trời cho loài chim này đôi tai rất thính, chỉ cần nghe một tiếng động nhỏ là kêu tao tác vít vít. Nhiều khi một con lang thang, nó cũng kêu thảm thiết như thể gọi bầy. Tưởng là vịt nhà, nhiều người thường vây bắt song đều thất bại vì chỉ tới gần nó đã bay mất. Khi chim vịt kêu, trời thường mưa. Ở những nơi khô hạn mà thấy vịt trời người dân mừng lắm, vì thế nào cũng mưa, do đó chúng là người bạn thân thiết của nhà nông.
Tiêu biểu và cũng hiền lành nhất trong các loài chim cạn, ăn ngũ cốc là cu. Đây còn là loài chim của mùa gặt gắn liền với thóc lúa. Có đến 22 loài cu, làm tổ trên cây, chủ yếu ăn hạt và sâu nhỏ. Tùy theo màu sắc của lông lưng (nâu, vàng, hung xám hay đỏ, cổ có đốm lấm tấm hoặc đốm chạy thành vòng như chuỗi hạt) mà dân gian gọi chúng là cu gáy, cu đất, cu cườm hay cu ngói. Mỗi loài đều bay khỏe dễ dàng vượt những đoạn đường xa và có đặc tính thoắt đậu thoắt bay. Cũng có đặc tính cứ trời nắng là gáy, tiếng hót mượt mà, trầm ấm phát ra từ đáy cổ họng u túc u túc cu ru. Nhiều khi là những tiếng gù gù hoặc cúc cù cu. Cu đẻ rất ít, mỗi lứa chỉ hai trứng bằng lóng tay. Bầy chim thường xuất hiện vào mùa gặt, khi vắng người liền xà xuống cánh đồng và các sân phơi thóc nhật thóc vương vãi.
Nhiều nơi rất thích bắt và nuôi cu vì dáng vẻ tao nhã, tiếng kêu ngân nga. Người ta thường nhốt mỗi lồng một con chim và vì lẻ bạn, muốn trốn thoát, nó cứ lồng lộn, xoay vòng tròn đồng thời kêu cùng cục. Rất đáng thương. Dân gian có câu: Cánh hồng bay bổng trời thu/ Thương con chim gáy cúc cu trong lồng/ Duyên may, tay bế tay bồng/ Thương ai vò võ trong phòng chiếc thân.
Để bắt được cu hoang rất khó khăn. Người bắt phải nấp vào bụi rậm, dùng một con chim mồi đã huấn luyện cho cất tiếng gáy hoặc tự mình giả tiếng chim dụ dỗ những con chim khác đến. Phải ngồi im lặng và mặc dù bị kiến cắn, đau bụng, ho hen cũng không được đụng đậy, nếu lộ đàn chim sẽ bay ngay. Từ xưa đã có tục ngữ: Ở đời có bốn cái ngu: làm mai, gánh nợ, gác cu, cầm chầu.
Gần giống cu gáy, những con tu hú ranh mãnh lại thuộc về những vườn cây ăn quả. Có 17 loài tu hú, với đặc điểm dễ nhận là cái mỏ dài, lưng xám, bụng trắng nâu kẻ, đuôi xòe. Đều vụng về, không biết làm tổ nên chuyên đẻ nhờ vào tổ của những loài chim khác. Để dễ lừa phỉnh, tu hú thường chọn những tổ chim chích hay họa mi rồi đẻ trộm sau khi đã ăn bớt một vài quả trứng ở đó. Con tu hú non lớn nhanh như thổi, chẳng mấy chốc đã to gấp năm lần bố mẹ nuôi, miệng rộng ngoác luôn luôn kêu đói khiến bố mẹ phải kiếm mồi suốt ngày mới đủ bón cho nó. Chưa hết, nhờ khỏe mạnh, to xác nó còn hất những anh em khác cùng tổ rơi xuống đất để được bố mẹ toàn tâm chăm sóc.
Tuy ăn sâu bọ, tu hú cũng ăn nhiều thứ quả ngọt và xuất hiện trong vườn vào mùa quả chín. Nhìn thấy tu hú, người dân biết ngay quả trong vườn đã chín: Khi con tu hú gọi bầy/ Lúa chiêm đang chín trái cây ngọt dần/ Vườn râm ran tiếng ve ngân/ Bắp rây vàng hạt, đầy sân nắng đào (Khi con tu hú – Tố Hữu); Nắng hè đỏ hoa gạo/ Nước sông Thương trôi nhanh/ Trên đường đê bước rảo/ Gió nam giỡn lá cành/ Bỗng tiếng chim tu hú/ Đưa từ vườn vải ra/ Quả bắt đầu chín bư/ Ngọt như nỗi nhớ nhà (Tiếng chim tu hú- Anh Thơ).
Xấu tiếng và luộm thuộm nhất trong muôn loài chim có lẽ là con quạ. Chúng thường được nhớ đến với câu: Quạ tha, quạ mổ hay quạ bắt gà con. Đây là loài chim dữ, to lớn song đen thui, kêu khàn đục khó chịu quà quạ và tập tính hay nhại cùng biệt tài bay liệng giỏi khi săn mồi. Có sáu giống gồm 15 loài quạ. Các con vật sống tự do trong những hang hốc, gốc cây, mái nhà, cột điện… và khi xây tổ luôn tha về rất nhiều rác rưởi. Dựa vào sự lộn xộn, tạp nham này, tiếng Việt có từ ô hợp, ô tạp. Quạ chủ yếu ăn thịt: Chúng săn lùng các loài chim nhỏ, tìm các tổ chim để ăn trứng và cũng tấn công gia cầm và thú nuôi. Vào xuân, chúng đẻ dăm trứng màu dương đốm xám. Nếu không nguy hiểm, con chim sống rất lâu, tới ba chục tuổi. Tuy xấu xí song bầy quạ thường được miêu tả khá đẹp trong văn học, được nhắc đến trong thơ văn xưa với câu chuyện Ngưu Lang Chức Nữ, làm cây cầu nối kết tình yêu, hạnh phúc và trong văn học hiện đại với cảnh mùa thu u buồn trĩu nặng cành khô.
Qụa còn được đề cao bởi tính chung thủy: Trong đôi quạ khi một con chết, con còn lại ở vậy tới già. Được ca ngợi là loài chim có hiếu: Khi quạ mẹ ốm yếu, cả đàn không vì thế mà ruồng bỏ, hàng ngày các con vẫn tìm thức ăn về mớm mồi nuôi mẹ. Dân gian do đó xem qua là con vật chung hiếu vẹn toàn. Với nhiều người, tiếng quạ nghe tao tác bất ổn, song cũng với nhiều người nó lại là thông điệp của tình yêu: Kêu cái mà quạ kêu/ Quạ kêu nam đáo/ Tắc đáo nữ phòng/ Người dưng khác họ| Chẳng nọ thời kia/ Nay dìa thì mai ở/ Ban ngày thời mắc cỡ/ Tối ở bên dìa/ Rằng a í a ta dìa/ Lòng thương nhớ thương (Lý quạ kêu – Dân ca).
Một loài chim ít gặp nhưng đã gặp thường gây cảm giác lo lắng, đó là cú lợn. Chúng hơi bí hiểm bởi đặc tính ăn đêm, và chỉ xuất hiện vào đêm ở ngoài ruộng, đồng, bãi tha ma hay cây cổ thụ khi mọi người đã ngủ. Nhiều loài cũng lộ diện vào chập tối ở các vùng hoang vắng. Có 16 loài trong đó nổi bật là ba loài cú lợn lưng xám, cú lợn rừng và cú lợn lưng nâu. Thường sống đơn độc ở hốc cây, kẽ đá và cành cao. Săn mồi vào đêm tất cả các loại gặm nhấm và bò sát. Đặc điểm là mình to, đầu to, mặt hình trái tim, mắt nâu, có lông quanh mắt và một túm lông dài dựng đứng như hai cái tai, mỏ trắng bợt hoặc nâu, chân có vuốt sắc, bộ lông xù màu xám tro hoặc nâu tím và khả năng bay nhẹ không phát ra tiếng. Cú lợn kêu eng éc giống hệt con lợn.
Nhiều người sợ tiếng cú lợn vì tin rằng những cô hồn nhập vào tiếng chim để hù dọa, than vãn. Khi đi qua quãng vắng mà nghe thấy tiếng cú kêu, đều vắt chân lên cổ chạy. Tuy nhiên, con vật rất có lợi cho mùa màng nhờ tài bắt chuột. Mỗi mùa hè, một con cú bắt được 1.000 con chuột, cứu cho một tấn lúa khỏi bị cắn phá. Do săn bắt các loài hôi hám, cú lợn rất hôi. Ca dao khi đả kích những người hay kiêu căng hợm hĩnh có câu: Cú lại chê vọ rằng hôi/ Giẻ cùi chê khách dài đuôi vật vờ.
Ngược với những loài chim lớn náo động, chim sâu rất yên ắng và là loài chim nhỏ, nhí nhảnh nhất trong thế giới chim quê. Như tên gọi, chúng chuyên ăn sâu bọ. Có hai giống gồm 8 loài chim sâu, cân trọng chỉ chừng 10 gam. Lưng màu lam hoặc dương xám, bụng hồng nhạt hay nâu vàng. Do nhỏ bé con chim dễ dàng lách vào kẽ lá, nhành hoa để bắt sâu và giành phần lớn thời gian bên những luống rau. Chúng làm tổ luôn trên ngọn cây, dùng mỏ cuốn lá khâu thành những chiếc rành xinh xinh. Chim sâu hót khá hay, tiếng hót trong veo. Con chim có thể hót tới 300 bài và hót 500 nghìn lần trong mùa sinh sản. Trẻ thơ rất yêu mến chim sâu vì chim có lợi cho mùa màng, vì tính cần cù, vô tư đã đi vào nhiều ca khúc thiếu nhi.
Với làng quê, mỗi loài chim đều đem tới cho cuộc sống niềm vui, sự thanh bình và an lạc. Sau buổi đi làm đồng, lúc rảnh rỗi hay khi tiết trời oi ả, mọi người thường ngồi nghe chim hót và mỗi mùa lại chờ mong từng đàn chim bay về làm xao động lá cành.
