MIB, ĐẰNG ĐẴNG THƯ CHAI

Trong các hình thức chuyển thư được biết tới nay, đưa thư bằng chim bồ câu và thả qua chai lọ xuôi dòng có lẽ là hai kiểu truyền tin lãng mạn nhất, hay đi vào văn học nghệ thuật nhất bởi vì nhờ trời và biển. Cả hai đều là thư cấp tốc, song ở kiểu đầu, thư còn nhanh tới tay người đọc, do con chim đã được huấn luyện biết đâu là đích và chủ, chứ ở kiểu sau chẳng rõ khi nào mới đến vì sóng xô dạt và ngẫu nhiên đậu đỗ ngoài biển.

Thế nhưng, người xưa vẫn phải gửi thư bằng chai lọ, với đa số trường hợp là để cầu cứu do họ đang gặp báo tố nguy hiểm hoặc bị lạc đường, không biết chỗ nào là bờ và cần có sự hoa tiêu, chỉ lối hằng hải. Một phần nữa là để truyền thông trong khi chiến đấu, phòng giặc hoặc thăm dò ý kiến xung quanh, tìm hiểu các luồng nước- hải triều đang chảy ra sao…, số còn lại là sự mơ mộng của các tâm hồn thi sĩ, nhân đứng trước biển thì gửi những dòng thư cho thân quyến, thậm chí người không quen biết, người yêu trong trí tưởng tượng, qua đó tỏ tình với ai nhặt được thư.

Có rất nhiều mục đích để người xưa, đặc biệt là thủy thủ gửi thư chai mà hôm nay gọi là MIB, song họ đều đã lường trước được kết quả phần lớn sẽ vô vọng, do thường thư chai sẽ không đến ngay được đích trong một, hai ngày để giúp giải quyết vấn đề mà dài hàng năm, cá biệt hàng chục năm và trên cả thế kỷ mới tới nơi. Thư chai cũng không đến đúng chỗ mà lạc vào tay người lạ nhặt được do điểm dừng chân của nó hay bị lệch so với ý định ban đầu vài trăm kilômét, hoặc từ đại dương này qua đại dương khác.

Chính vì thực tế ấy, MIB luôn có tính kịch và hay được xây dựng thành các bài ca, vở diễn miêu tả nỗi nhớ mong khắc khoải của cả người đi biển lẫn kẻ ở vì họ không biết bao giờ mới gặp lại. Càng khó gặp thì họ càng gửi thư, mong sóng gió sẽ đẩy những chai thư hoặc thùng thư tới nơi người thân, bạn bè đang ở. Thủy thủ đoàn là những người hay gửi thư nhất vì chỉ họ mới biết mình có cơ hội về với gia đình hay không, khi một ngày gặp vô số giông gió, đá ngầm, cạn kiệt lương thực, cướp biển, chim thú dữ…

Được biết người đầu tiên nghĩ ra kiểu thông tin này là nhà triết học Hy Lạp cổ đại Theophrastus vào năm 310 trước Công Nguyên. Ông đã thả những chai thư ra biển để tìm hiểu xem biển Địa Trung Hải có phải được hình thanh từ những luồng nước chảy vào từ Đại Tây Dương không?!. Học tập ông, dựa theo sự phiêu dạt của những chai thư và phát hiện Gulf Stream của Benjamin Franklin và James Poupard, vào cuối thế kỷ 18, các nhà hải dương đã vẽ được bản đồ hoàn lưu của thế giới. Cho tận thế kỷ 20, để xác định hải triều các nơi sẽ chảy thế nào, sang đông hay tây, ngược hay chảy xuôi, giới nghiên cứu vẫn thả chai thư đều đặn. Theo một ước tính vào năm 2009, từ năm 1950 tới đầu thế kỷ 21, tổng cộng đã có hơn sáu triệu cái chai như vậy, gồm 500 nghìn cái được thả ra biển phục vụ khoa học.

Chủ yếu MIB xưa nay vẫn được dùng vì mục đích trao đổi thư từ. Ví dụ như theo Câu chuyện của Heike, một trường ca trung cổ Nhật Bản, thì vào năm 1177 một thi sĩ bị lưu đày ra biển, vì nhớ nhà và muốn cho mọi người biết cuộc đời của mình, dọc đường đi ông đã liên tục thả MIB, đặc tả những khó khăn của mình bằng những vần thơ. Tương tự, vào năm 1784, một thuyền trưởng Nhật Bản, tên là Chunosuke Matsuyama, đã gửi một chai thư mà hiện giờ là một trong những MIB lâu đời nhất thế giới được bảo tồn, trong đó viết ông và 43 thuyền viên đã bị đắm tàu và dạt lên một hòn đảo xa xôi. Tuy nhiên, mãi đến năm 1935 một người hái rau câu ở làng Hiraturemura, quê hương ông mới lượm được nó.

Khi nhà phát kiến Christopher Columbus người Italy, tìm ra châu Mỹ năm 1492, trên đường về ông cũng gặp bão lớn, nên đã thả một thùng thư đến với vua Ferdinant và nữ hoàng Isabella, nói rằng ông đã tìm thấy tân thế giới song vì nhiều nguyên nhân thư đã không về được Tây Ban Nha. Vào thế kỷ 16, hải quân Anh cũng dùng MIB để đưa tin giữa các hạm đội, gồm rẩt nhiều tin mật về vị trí quân địch cùng lãnh hải, thế nhưng người bắt được thư luôn là dân chài và họ thường tò mò mở xem, vì thế tương truyền nữ hoàng Elizabeth đã phải lệnh MIB thuộc về hoàng gia, nếu ai nhặt được không nộp, xem trộm sẽ bị chém đầu.

Như đã nói, MIB ít khi nào về đúng “địa chỉ” vì nó hay phiêu bạt lung tung. Theo thực chứng, một cái chai có thể trôi rất xa tới hơn 10 nghìn kilômét và với tốc độ 160 kilômét/ ngày. Nó có thể đi từ biển Beaufort thuộc bắc Alaska Mỹ, Tây Bắc Canada tới châu Âu; từ Nam Cực tới Tasmania Australia; từ Mexico tới Philipin, từ New Zealand tới Tây Ban Nha. Lấy cảm hứng từ thú vui tốn thời gian này, từ thế kỷ 19 đã nảy sinh khá nhiều thơ văn, tiểu thuyết dành cho chủ đề phiêu lưu, gồm MS tìm thấy trong chai của văn hào Edgar Allan Poe năm 1833 tới Một thông điệp từ biển của Charles Dickens 1860…

Tuy ít khi được hồi đáp và nhiều lúc chỉ ướm hỏi vu vơ, song MIB không phải không có tác dụng. Bằng chứng là cũng có nhiều người nhặt được thư hằng hải, nộp cho chính quyền lấy tiền. Một số khác giữ thư ở trong nhà để trang trí, trưng bày và một số trả lời lại nếu nó mới được viết, ví dụ như trường hợp lãng mạn của cô gái Paolina sau đây: Vào năm 1956, một thủy thủ người Thụy Điển, tên là Viking Ake, thấy cô đơn vì xa nhà và phải bôn ba khắp nơi nên liền quyết định gửi một lá thư chứa lời tỏ tình, nói nếu cô gái nào nhặt được nó mà đồng ý làm bạn của anh thì sau này họ sẽ thành đôi. Vài tháng sau, một ngư dân tại Sicily- Italy bỗng nhặt được chai thư, và con gái ông- chị Paolina vì hiếu kỳ đã hồi đáp. Không ngờ rằng, theo địa chỉ con tàu, anh cũng nhận được, và hai năm sau khi tàu ghé Italy, đã đến nhà Paolina và cùng chị se duyên.

Đó chỉ là một trường hợp hãn hữu, còn phần lớn MIB sau rất nhiều năm lênh đênh mới lọt tay người. Hiện nay, MIB lâu đời nhất thuộc về Chunosuke Matsuyama kể trên, ông đã thả nó vào năm 1784 tại một đảo thuộc Thái Bình Dương, và nó đã được thấy ở Hiraturemura Nhật Bản năm 1935, khi đã 151 tuổi. Già dặn thứ hai là thông điệp từ hội sinh học đại dương Anh, thả tại Bắc Hải năm 1906, phát hiện tại Amrum Đức năm 2015, lúc 108 tuổi. MIB lâu dài thứ ba là thư thả tại San Francisco Mỹ năm 1906 và thấy ở British Columbia Canada năm 2013, 107 tuổi. Thứ tư là thư từ Richard Platz xuất hiện năm 2014, 101 tuổi; thứ năm là thư được nhặt bởi Andrew Leaper năm 2012, 98 tuổi và thứ sáu là thư của Selina Pramstaller và Tillie Esper dạt vào đảo Harsens Mỹ năm 2012, 97 tuổi…

Dưới đây là ba thư chai đang được trưng bày với nội dung khá cụ thể, thu hút được nhiều sự chú ý gồm bức thư từ tàu Paula của Đức vào ngày 12 tháng 6 năm 1886 hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Tây Úc. Thư được chứa trong một chai rượu gin và được thả xuống như một phần của thí nghiệm nghiên cứu hải lưu toàn cầu do Đài thiên văn Hàng hải Đức thực hiện. Với mặt trước viết bằng tiếng Đức nhờ người tìm thấy điền thông tin ngày giờ, tọa độ rồi gửi trả lại Đài thiên văn, còn nội dung chính là “ Chiếc chai này được ném qua băng tàu vào ngày 12 tháng 6 năm 1886 ở Vĩ độ 32° 49′ Nam và Kinh độ 105° 25′ Đông tính từ Greenwich… Từ tàu: Paula. Cảng nhà: Elsfleth. Thuyền trưởng: Diekmann.” Nó đã được tìm thấy vào tháng 1 năm 2018 bởi một người dân trên bãi biển Đảo Wedge.

Thư chai thứ hai là một bưu thiếp trong chai bia của Richard Platz vào ngày 17 tháng 5 năm 1913 và đang được trưng bày tại Bảo tàng Hàng hải Quốc tế Tác giả là một thanh niên 20 tuổi tên là Richard Platz muốn nhờ người nhặt nó gửi về địa chỉ nhà của anh tại Berlin: ‘Xin vui lòng gửi tấm thiệp này tới địa chỉ…”, và ghim sẵn trên đó hai con tem để người tìm thấy không phải trả phí bưu điện nữa. Chai bia khi trôi dạt tại Biển Baltic đã được một ngư dân vớt được vào năm 2014.

Thư thứ ba là một lời từ biệt định mệnh từ vụ đắm tàu RMS Titanic khủng khiếp vào ngày 15 tháng 4 năm 1912, và Trung tâm Di sản Cobh Ireland là đơn vị đang bảo quản nó. Qua đó chàng trai Jeremiah Burke (19 tuổi) cùng em họ của cậu đã lên tàu Titanic đi chơi tại bến cảng Queenstown. Sau khi con tàu va phải băng trôi, Burke đã dùng chiếc chai đựng nước thánh mà mẹ cậu tặng trước khi đi, dùng dây giày buộc lại, ném xuống biển. Kỳ diệu thay, một năm sau, chai nước thánh này đã dạt vào bờ biển Dunkettle, cách nhà anh không xa. Gia đình Burke đã giữ gìn hiện vật suốt gần một thế kỷ trước khi tặng cho bảo tàng. Trên một mảnh giấy nhỏ chỉ có mấy lời viết bằng bút chì là: “Từ tàu Titanic, tạm biệt tất cả mọi người, Burke từ vùng Glanmire, Cork.”

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
error: Content is protected !!